Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

SINH HOẠT LIÊN HỮU T/5

Niệm Phật một câu phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy tội diệt hà sa
"NGŨ PHÚC LÂM MÔN"
ĐTỰA BUỔI CHIA SẺ PHÁP THOẠI T/5
CỦA Đ/Đ. THÍCH PHÁP ĐĂNG

Vài hình ảnh sinh hoạt Liên hữu Phật tử trong lễ phóng sanh T/5 tại Chùa Kỳ Quang II, cùng viếng thăm Đại Lão H/T. Thích Trí Tịnh tại Vô Y Viện, Chùa Vạn Đức và ngày cộng tu niệm Phật T/5 tại Chùa Huệ Viễn.  

Dưới ánh ban mai sau cơn mưa sáng C/N, chúng con hân hoan trở về đạo tràng Vạn Đức cùng đảnh lễ và cúng dường Sư Ông dưới sự hướng dẫn của Thầy Pháp Đăng.  Huynh đệ Phật tử chúng con được tận mắt nhìn thấy sắc diện khỏe mạnh và phong thái tự tại đầy oai nghi của Ngài, khiến lòng mình cảm thấy mát mẻ, tỉnh táo như lữ khách phương xa được nghỉ chân dưới bóng râm của cây Đại Thụ cố hương.  Kính chúc Sư Ông tăng long phước thọ, tiếp tục trụ thế vì chúng sanh.  Kính chúc Quý Thầy, Cô gần xa nhiều sức khỏe trong Mùa An Cư P/L. 2557 để tiếp tục sự nghiệp tu đạo và hoằng pháp lợi sanh.   

Thành kính tri ân Thầy trụ trì cùng toàn thể Pháp hội đã ân cần trợ duyên và khuyến tấn huynh đệ Phật tử chúng con luôn học hỏi và thực hành những bài Pháp Nhân - Quả quý báu trên bước đường tu tập.  

Đồng cảm niệm bộ sưu tập ảnh xuất sắc từ Anh Hoằng Hoàn.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

Namo Đại Từ Bi Phụ A MI ĐÀ Phật,
Hoằng Hoàn và Hoằng Trạng

Click xem các video clips mới đang phát trực tuyến ngay bên dưới:
LỄ PHÓNG SANH T/5 tại: http://youtu.be/ArMMWMxcVKA
NGÀY CỘNG TU T/5 tại: http://youtu.be/cQ2rEbBNhSY
THỜI PHÁP THOẠI T/5 tại: http://youtu.be/3bB5r1gYkf4










































    Niệm Phật là nhân - Thành Phật là quả - Niệm Phật thành Phật

    Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

    HÓA GIẢI CHƯỚNG DUYÊN

    Niệm Phật một câu phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy tội diệt hà sa

    HÓA GIẢI CHƯỚNG DUYÊN
    TRÍCH: NIỆM PHẬT THẬP YẾU - CỐ H/T. THÍCH THIỀN TÂM

    Khi mới vào chùa, bút giả nghe được một truyền thuyết bao hàm ẩn ý, mà không biết có đúng với nguyên ngữ chăng, và phát xuất từ đâu? Câu ấy là:
    "Phật cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng, Phật cao nhứt trượng, ma cao quá trượng đầu, Phật cao siêu quá trượng đầu, ma quy hàng Phật"

    Ý nghĩa câu này là - Phật cao một thước, ma cao một trượng.  Phật cao một trượng, ma cao khỏi đầu trượng; nếu Phật cao vượt khỏi đầu trượng nữa, ma sẽ quy hàng Phật.  Suy gẫm theo câu trên, người tu phải làm sao cho ông Phật của mình cao hơn con ma, nếu chẳng thế tất bị ma chướng đánh đổ.  Cho nên trong làng tu, những kẻ bị thối bại không nên đổ cho hoàn cảnh, hoặc phiền trách ai, chỉ trách tại ông Phật của mình thua con ma mà thôi.  Nếu cố gắng giữ vững chí nguyện, ma chướng sẽ tiêu trừ.  Vì biết trên đường tu có nhiều chướng ngại, khi xưa Đức Đạt Ma Tổ Sư đã nói Bốn Hạnh để làm phương châm tiến đạo cho hàng đệ tử.  Bốn hạnh ấy là:

    1. BÁO OAN HẠNH
    Chúng ta từ trước đến nay luân hồi trong Sáu Nẻo, mỗi đời đều gây nghiệp trái hoặc ân hoặc oán, từ việc nhỏ đến việc lớn, có thể nói là vô lượng vô biên.  Cho nên khi ta hành đạo, tuy nhờ công đức tu tập tiêu trừ một phần nào, nhưng các nghiệp chưa tan, tất phải lần lượt đền trả.  Như người thường đau yếu hoặc tàn tật, do kiếp trước đã tạo nghiệp sát sanh.  Người bị nhiều tiếng thị phi khen chê, do kiếp trước ỷ thông minh quyền thế xem rẻ người, hoặc đã tạo nghiệp hủy báng.  Người bị nghèo khổ thiếu hụt, do kiếp trước không có lòng xót thương tu hạnh bố thí.  Người bị gông cùm tra khảo tù đày, do kiếp trước hay trói buộc, đánh đập, giam nhốt chúng sanh.  Kẻ bị cô độc lẻ loi thiếu người phụ trợ, do kiếp trước không hoan hỷ kết duyên với mọi người.  Những nghiệp như thế vô lượng vô biên, ngày nay tu hành khi bị oan trái đến, phải an lòng nhẫn nại chịu đền trả, không nên oán trách buồn phiền.  Nơi kiếp luân hồi, chúng sanh đều có ăn uống cùng gia đình đôi bạn, nên trong các nghiệp duy có nghiệp sát và nghiệp ái là nặng nhứt.  Cổ đức đã than:
    "Bể nghiệp mênh mang, khó đoạn không chi hơn ái dục.  Cõi trần man mác, dễ phạm duy chỉ có sát sanh"

    Bút giả từng nghe một Phật tử Bắc Việt thuật lại câu chuyện, vì lâu quá chỉ nhớ phần đại khái, quên mất tên họ địa chỉ của người trong cuộc.  Phật tử ấy nói - Có một vị sư nguyên là thầy giáo, vì tỉnh ngộ cảnh thế phù du, nên lên tịnh tu trên núi.  Trải một thời gian, vị sư được chư thần mách bảo rằng - Ông có duyên nợ mười chín năm với một cô tên họ là thế, nay tuy đã tu hành không nên kết duyên chồng vợ, nhưng phải xuống núi dạy dỗ giác ngộ cô kia, trả xong mối nợ tiền khiên đúng như thời hạn ấy, rồi trở lên núi tu hành mới có thể thành công.  Vị sư y lời xuống núi, quả nhiên gặp một cô tên họ đúng như chư thần đã bảo, cảm mến đeo đuổi.  Sư khuyên nhủ dạy đạo cho cô, trả xong y theo thời hạn rồi lên núi.  Lúc lâm biệt cô ấy vẫn còn quyến luyến khóc lóc.  Đây là sự trả nợ nần về nghiệp ái.  Nơi truyện Quần Tiên, nhân tiết trung thu chàng văn sĩ Vân Tiêu lên núi chơi.  Trong đêm rằm, chàng mục kích chư tiên nương mây cởi hạt giáng xuống một tòa thạch bàn, bày tiệc trái ngon rượu quí, vừa đàn ngâm hát rằng:
    Đêm thu một khắc một chầy
    Vầng trăng khéo rọi cảnh này sơn âm!
    Nghiêng bầu hỏi bạn đồng tâm
    Hằng Nga khuất bóng biết tìm nơi đâu?

    Bên tiên nữ có một nàng tên là Thái Loan, sắc đẹp dịu dàng, ca ngâm hay nhất, làm cho Vân Tiêu tuy ẩn bóng rình nghe, cũng bàng hoàng xúc động.  Giây lát sau, một vị lão tiên uống rượu xong, ca rằng:
    Hữu duyên tương hội tại tiên đàn
    Ưng đắc Vân Tiêu giá Thái Loan!

    Nghe hai câu ấy, Vân Tiêu phải chường mặt ra dự vào đàn tiên.  Chư tiên bảo Thái Loan tiên nữ còn trần duyên với Vân Tiêu mười ba năm, truyền đồng tử đem sổ ra xóa bỏ tiên tịch.  Và sau mười ba năm sống với Vân Tiêu, trần duyên đã mãn, Thái Loan dùng phép ẩn thân bay về non tu lại. Cho nên chư tiên vẫn còn ở trong vòng nhân duyên kiếp quả.
    Về nghiệp sát, như Sư Tử Tôn Giả bên Ấn Độ và Thần Quang Nhị Tổ ở Trung Hoa tuy đều đắc đạo, nhưng ngày kết liểu vẫn phải an nhiên chịu chém để đền nợ mạng.  Lại như Ngài Mục Kiền Liên tuy đắc quả A La Hán, thần thông bậc nhất trong hàng Thanh Văn, nhưng vì muốn trả túc nghiệp, nên để bọn hung đồ dùng đá gậy liệng đánh cho đến chết, thi hài lại bị vùi trong hầm phẩn.  Đức Phật thấy thế thương xót, sai đệ tử đem thây Ngài lên tắm rửa sạch sẽ, xoa ướp dầu thơm, rồi đem đi trà tỳ thâu lấy Xá Lợi.  Và như Thái Tử nước An Tức xuất gia tu hành đắc đạo, dùng Túc Mạng Trí thấy mình còn nghiệp trái sát sanh, nên ba phen chuyển kiếp đến xứ Lạc Dương ở Trung Hoa trả nợ mạng ba lần.  Kiếp sau rốt, Ngài là Sa Môn An Thế Cao.  Cho nên trên đường tu đâu biết ai là toàn vẹn, ta không nên tự mãn mà khinh thường người.  Bởi nghiệp trái của chúng sanh rất nhiều, có khi đền trả hết lớp này lại đến lớp khác.  Nhiều vị xem dường rảnh rang không oan trái, nhưng chưa hẳn là không có, chỉ vì chưa đến thời tiết nhân duyên đền trả đó thôi.  Muốn dứt oan khiên ta phải an nhẫn sám hối và cố gắng tu hành để diệt trừ.  Thi sĩ Nguyễn Du có lẽ đã tin sâu về thuyết nghiệp báo và sự cải tạo nhân quả của nhà Phật, nên mới có câu:
    Đã mang lấy nghiệp vào thân
    Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa...

    Lời này đã được nhiều bậc thức giả công nhận.

    2. TUỲ DUYÊN HẠNH
    Đây là nói sự an phận tùy duyên của người tu cảnh nào sống theo cảnh ấy.  Như cảnh giàu sang tùy theo giàu sang, cảnh nghèo hèn tùy theo nghèo hèn, cảnh man rợ tùy theo man rợ, cảnh hoạn nạn tùy theo hoạn nạn, cho đến cảnh thạnh suy, họa phước, đắc thất, thị phi… cũng đều như thế.  An phận tùy duyên đây, là giàu sang mà không tự đắc kiêu căn, nghèo hèn hoạn nạn mà không buồn rầu đổi chí.  Tại sao thế?  Vì tất cả cảnh thạnh suy họa phước đều như huyễn, chỉ tùy nghiệp hiện lên một thời gian rồi diệt, có chi đáng tham luyến nản buồn?  Khi xưa, đức Khổng Tử và đồ đệ bị giặc vây giữa nước Trần nước Thái, thầy trò tuyệt lương đã bảy ngày, song Ngài vẫn khảy đàn tươi cười.  Tử Cống hỏi - Tại sao gặp hoàn cảnh sống chết không định ngày, mà Phu tử hãy còn vui cười được?  Ngài đáp - Việc gì ta đã cố gắng làm hết sức ta mà xảy ra như vậy, là mạng trời, buồn rầu thương khóc nào có ích chi?  Như đức Khổng Tử có thể gọi là bậc thánh tri mạng, luôn luôn bình tĩnh sáng suốt, không bị bối rối đổi thay trước mọi hoàn cảnh.  Người tu nên như thế, phải xem ruộng vườn, nhà cửa, quyến thuộc, tài sản đều là duyên giả tạm, không vì nó mà quyến luyến bận tâm, mới có thể tiến lên đường giải thoát.

    3. XỨNG PHÁP HẠNH
    Pháp đây là Chân Như pháp, đối với người tu Tịnh Độ là Niệm Phật Tam Muội.  Người tu Thiền khi đi đứng nằm ngồi, tâm phải xứng hợp với Pháp Chân Như, như nước hòa nước, tợ hư không hợp với hư không.  Hành giả tu Tịnh Độ cũng thế, tâm lúc nào cũng trụ nơi câu niệm Phật.  Cổ đức bảo:
    "Nếu tạm thời không trụ nơi chánh định, tức đồng như người đã chết"

    Bởi không trụ được nơi chánh định, tức là bị trần cảnh đoạt.  Bị trần cảnh cướp đoạt lôi cuốn, thì pháp thân huệ mạng không còn.  Cho nên người tu Tịnh Độ nếu thường trụ nơi câu niệm Phật, thì tâm địa lần lần lặng yên sáng suốt, cảm thông với Phật, chắc chắn sẽ được vãng sanh.

    4. VÔ SỞ CẦU HẠNH
    Đạo là chỉ cho tâm hạnh trong sạch không mong cầu điều chi.  Bởi tất cả pháp đều như huyễn, sanh rồi diệt, diệt lại sanh, có chi chân thật để mong cầu?  Vả lại pháp thế gian đều tương đối, trong họa có phước, trong phước có họa, nên người trí vẫn bình thản, ở cảnh thạnh suy họa phước đều không động tâm.  Thí dụ - Một tăng sĩ khi ẩn tu nơi am tranh vắng vẻ, sự sống hẩm hiu, ít người thăm viếng, duyên đời tuy suy nhưng đạo lại thạnh.  Ít lâu sau, nếu có người đạo tâm hay biết tới cúng dường, lần lần lập nên chùa lớn, tăng chúng tập trung về đông đảo, chừng ấy phước duyên tuy thạnh nhưng phần giải thoát lại suy, bởi vị ấy mắc bận tâm lo ứng phó công việc bên ngoài.  Lẽ họa phước ẩn nương nhau cũng như thế.  Cho nên tâm hạnh của người tu là không cầu việc ác, hay cầu làm chúng sanh, cũng không cầu điều thiện, hoặc cầu thành Phật.  Có người hỏi - Nếu niệm Phật không cầu vãng sanh, không cầu phước huệ viên mãn để thành Phật, thì làm sao tu tiến?  Đáp - Bởi Phật là chơn không, càng cầu lại càng xa càng mất.  Vì thế Kinh Pháp Hoa nói:
    "Giả sử có vô số bậc Thanh Văn, Duyên Giác cho đến hàng Bất Thối Bồ Tát, trong vô lượng kiếp suy nghĩ tìm cầu, cũng không thấy hiểu được thật trí của Phật"

    Về sự vãng sanh, thì lối cầu của người tu là cầu mà không cầu, không cầu mà cầu.  Sự ứng dụng ấy như mặt gương sáng trong, khi hình đến thì chiếu soi, hình đi, lại lặng yên rỗng suốt.  Giữ sự thấy biết tìm cầu thì lạc vào vọng tưởng, không thấy biết tìm cầu nào khác gì gỗ đá vô tri!  Nói rộng ra, hạnh Vô Sở Cầu đây gồm cả Ba Môn - Không, Vô Tướng, Vô Nguyện vậy.   Nếu người tu giữ theo bốn hạnh của Đức Đạt Ma Tổ Sư đã dạy, thì có thể bình thản trước mọi chướng duyên.

    Trích Niệm Phật Thập Yếu của H/T. Thích Thiền Tâm


    Niệm Phật là nhân - Thành Phật là quả - Niệm Phật thành Phật

    Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

    LỄ HÚY KỴ 18TH CỦA CỐ H/T. TUYÊN HÓA


    Niệm Phật một câu phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy tội diệt hà sa


    NHÂN QUẢ, SÁM HỐI, CHUYỂN HOÁ
    Nguyên tác: Cố H/T. Tuyên Hoá - Vạn Phật Thánh Thành, California USA

    Không thể cầm nắm được nghiệp. Chúng ta bị nghiệp dẫn dắt nên sanh ra ở thế gian này để trả nghiệp báo đời tiền kiếp của mình. Trong quá khứ, chúng ta tạo những nghiệp khác nhau, nên hôm nay thọ nhận những quả báo khác biệt. Vì vậy có câu: Lưới nghiệp vây bủa chằng chịt.

    Nhất thiết thị khảo nghiệm
    Khán nhi thậm ma biện
    Địch diện nhược bất thức
    Tu tái tùng đầu luyện.

    Tạm dịch:

    Tất cả đều khảo nghiệm
    Xem coi ta làm gì
    Trước mặt chưa nhận ra
    Phải bắt đầu trở lại. 


    Chữ Nhục (Thịt) trong tiếng Tàu gồm có một kẻ bị ăn và một kẻ đang ăn. Kẻ đang ăn thì ở phía ngoài và vẫn còn làm người. Kẻ bị ăn thì đã biến thành loài vật. Kẻ đang ăn và kẻ bị ăn có mối liên hệ oán thù với nhau mà không thể hóa giải được; họ cứ giết hại lẫn nhau từ đời này sang đời nọ.  Nếu thực sự muốn giải độc cho thế giới thì mọi người phải ăn chay, chớ nên ăn thịt.  Người xưa nói: Người quân tử tự tạo mạng.  Những người đạo đức, quân tử chân chánh có thể sửa đổi vận mạng của họ vì họ vượt thoát được số mạng.

    Tại sao không có những điềm lành?  Vì tâm niệm xấu xa.  Trồng nhân xấu thì đương nhiên phải gặt quả xấu.  Nếu có thể sửa đổi tâm tánh, làm lành tránh ác, thì điềm lành sẽ đến và xa lìa điềm xấu.  Tập khí xấu xa khó trừ bỏ được.  Tuy nhiên, nếu xả bỏ được thì thật là người có Định lực.  Người thấy lỗi chúng ta là Thầy của chúng ta.  Người nói ra lỗi của chúng ta chính là bậc Thiện Tri thức.  Vì thế, chúng ta phải nên cảm ơn, chớ sanh tâm oán thù.  Tâm cung kính có thể chuyển hóa tâm chấp nê thành tâm dịu dàng, hiền từ.  Lễ Phật tức là lễ tự tánh Phật; nghĩa là lễ vị Phật trong tự tánh của mình.  Tương lai sẽ thành Phật tức là tự tánh mình sẽ thành Phật.


    TẠI SAO CHÚNG TA CÓ NGHIỆP MA

    Vì trong đời quá khứ không chịu nghe lời dạy bảo và khuyên răn của các vị Thiện tri thức, cứ mãi chạy theo vọng tưởng, tạo bao nghiệp xấu.  Thế nên, đời này thường bị nghiệp ma ràng buộc, khiến cho mọi việc đều không được vừa ý và mãn nguyện.

    Tâm tư và hành vi của con người luôn luôn thay đổi theo ngày tháng.  Làm thế nào chúng ta không biết rằng chúng ta sẽ thay đổi tôn giáo? Có thể tin theo tín ngưỡng này trong đời hiện tại, nhưng không chắc chắn rằng chúng ta sẽ tin theo tín ngưỡng đó trong đời vị lai. Nếu có ai chưa tin tưởng Phật pháp, chớ thất vọng. Tất cả chỉ tùy thuộc vào thời gian và nhân duyên. Họ có thể chưa tin tưởng Phật pháp hôm nay, nhưng có thể vào ngày mai sẽ tin tưởng. Quý vị có thể nói: Nếu họ chưa tin tưởng Phật pháp đời này, tôi sẽ đợi họ đến đời sau. Nếu đời sau họ vẫn chưa tin tưởng Phật pháp, tôi sẽ đợi họ đến đời kế. Nếu họ chưa tin tưởng trong đại kiếp này, tôi sẽ đợi họ sang đại kiếp sau. Nếu sau khi một đại kiếp đã trôi qua mà họ chưa tin tưởng Phật pháp, tôi sẽ đợi thêm một đại kiếp kế. Trong những lúc đó, sẽ có ngày họ tin tưởng Phật pháp.

    Hiện tại là thời đại thông tin, nên Phật giáo bước vào thiên niên kỶ mới. Chúng ta muốn hợp nhất tất cả tôn giáo vào trong đạo Phật. Do đó, trước hết người Phật tử chúng ta phải học cách cảm thông với nhau. Chúng ta chớ có chấp vào Đại Thừa hay Tiểu Thừa mà phải học hỏi lẫn nhau. Những gì chưa từng biết đến, chúng ta phải đi học hỏi nơi người khác. Dẫu người khác có học hỏi gì nơi chúng ta hay không, chớ bận tâm. 

    TU HÀNH
    Tu đạo là cần phải Quay Trở Lại. Nghĩa là gì? Tức là phải nhường cho người việc tốt lành, còn mình thì nhận phần hư xấu. Xả Tiểu Ngã để thành tựu Đại Ngã.  Đối với ma đừng khởi tâm thù nghịch.  Hãy xem chúng như các bậc Thiện Tri Thức trợ Đạo cho mình.  Từ vô lượng kiếp đến nay, hết đời này sang đời khác, mỗi người tạo bao nghiệp khác nhau, nên vọng tưởng cũng không đồng.  Nghiệp nặng thì vọng tưởng nhiều, còn nghiệp nhẹ thì vọng tưởng ít.  Người tu hành phải vì cắt đứt dòng sanh tử luân hồi, vì hóa độ chúng sanh, chứ không vì cầu cảm ứng mà tu Đạo.  Người tu Đạo phải luôn luôn hồi quang phản chiếu, chứ không nên hướng ngoại truy cầu.  Không thể chạy tìm cầu chân tâm ở bên ngoài được, mà phải quay về tự tánh thì tự nhiên đầy đủ cả.  Đối với người mới phát tâm tu hành, điều chướng ngại trọng yếu nhất khi dụng công là tâm tham luyến sắc dục giữa nam và nữ.  Đây là vấn đề căn bản nhất.  Người tu Đạo nên chú ý!  Chớ gieo duyên nhiễm ô với người khác.  Sợi dây trói buộc bất tịnh này sẽ làm chúng ta đọa lạc.

    Hiện tại, chúng ta may mắn có được thân người.  Nếu không biết dùng thân người để tu hành thì đợi đến khi nào mới chịu tu?  Chỉ e đến lúc mất thân này rồi, dẫu có muốn tu hành thì đã quá muộn màng!  Khi tu học Phật pháp, điều thiết yếu là phải chân thật.  Nơi mỗi hành động, lời nói, cử chỉ đều phải chân thật.  Sống trong tự viện, chúng ta phải biết tiết kiệm mọi vật dụng.  Có câu: Giữ gìn vật của chùa như bảo vệ tròng con mắt.  Không thương cùng không ghét chính là nghĩa Trung Đạo. Tu đạo là gì?  Tức là tu theo Trung Đạo.  Khi đối xử với mọi người, phải lấy lòng bình đẳng và lòng từ bi làm căn bản.  Khi hành sự, phải cẩn thận, chớ đi lạc vào lưới rọ tình ái.  Chưa bao giờ có việc.  Ngày nay tu Đạo thì ngày mai thành Phật.  Mới cuốc một nhát đâu có thể đào giếng nước ngay được.  Tu hành là đem khối sắt mài thành cây kim.  Khi công phu đầy đủ thì tự nhiên sẽ thành tựu.  Việc đầu tiên khi tu học Mật chú là phải chánh tâm thành ý.  Nếu tâm không chân chánh thì khi tu học, Mật chú nào cũng thành tà.  Tâm nếu chân chánh thì việc tu học Mật chú mới được cảm ứng.  Vô minh có hai đồng bạn.  Hai đồng bạn đó chính là tham ăn và tham sắc dục.  Cả hai việc này trợ giúp vô minh tạo ra vô số nghiệp xấu.  Có câu:

    Khi muốn làm người tốt thì nghiệp báo hiện
    Khi muốn thành Phật thì ma đến thử thách

    Nếu không muốn trở thành người lành thì nghiệp báo không tìm đến. Càng quyết chí làm người lành bao nhiêu thì nghiệp báo càng tìm đến tới tấp bấy nhiêu để đòi chúng ta thanh toán nợ nần cho rõ ràng.  Phật và ma chỉ khác nhau nơi một tâm niệm - Phật thì có tâm từ bi, còn ma thì có tâm tranh hơn thua.  Người thực sự biết cách tu hành thì nhất cử nhất động đều là tu cả.  Người tu Đạo không nên đi khắp nơi quảng cáo sự tu hành của mình.  Ai thường làm việc đó thì nhất định sẽ đọa lạc vào đường ma.  Khi ở bất cứ nơi nào, người tu Đạo cũng đều phải che giấu và tẩy xóa tông tích; chớ nên để lộ diện.  Tâm của chúng ta thường trú tại những nơi khác chứ không trú tại trong tâm mình. Trú tại những nơi khác nghĩa là có thân mà tâm lại chạy tán loạn.  Giảng Kinh thuyết Pháp là tu Huệ.  Ngồi Thiền là tu Định.  Không nói lời tạp nhạp là tu Giới.  Phiền não tức Bồ Đề.  Nếu biết cách tu hành thì phiền não tức là Bồ Đề, bằng ngược lại thì Bồ Đề biến thành phiền não.

    Tu Đạo cần phải tập dại khờ.  Càng dại khờ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu.  Dại khờ cho đến lúc buông xả muôn việc thì vọng tưởng sẽ không còn.  Vô minh nghĩa là không hiểu rõ. Gốc rễ của vô minh là ái dục.  Mục đích chủ yếu của sự tu hành là cắt đứt dòng sanh tử, chứ không phải cầu cảm ứng.  Tu hành thì cần phải giữ mình cho trong sạch, như giữ đôi mắt không để dính một hột cát.  Cờ bạc thì tạo nghiệp nặng.  Bố thí thì tích lũy công đức. Ngồi Thiền thì trừ ngu si, giúp sanh trí huệ.  Người tu hành nên cẩn thận lời nói nơi chỗ đông người và phòng hộ tâm niệm khi ngồi một mình.  Lúc ở giữa đại chúng, đừng nên nói nhiều.  Khi ở riêng một mình nên đề phòng tâm ích kỷ và vọng tưởng.  Nếu làm được như thế thì chẳng bao lâu sự tu hành sẽ được chuyên nhất và thấy rõ chân tâm.  Thọ khổ thì dứt khổ.  Hưởng phước thì hết phước.  Người chân chánh tu Đạo phải quán xét mọi hành vi, cử chỉ của chính mình.  Lúc đi, đứng, nằm, ngồi, chớ rời chánh niệm.  Đừng giống như tấm gương, chỉ biết soi mặt người mà không thể tự soi lại bộ mặt thật của mình.  Nếu còn chấp trước thì đó là tâm người thế tục.  Nếu xả chấp thì đó là tâm Đạo.  Nếu không muốn chết, phải sống như người đã chết, tức là phải giữ tâm đừng để tham lam, sân hận, si mê nổi lên.

     

    Người học Đạo nhất định phải phát nguyện. Nguyện lực có khả năng thôi thúc chúng ta tiến tu theo Chánh Đạo mà không lạc vào đường tà.  Tuy nhiên, phát nguyện mà không hành thì giống như cây có hoa nhưng không đơm trái, thật vô ích!  Dùng lưỡi để thuyết Pháp thì tích lũy công đức.  Ngược lại, nếu dùng lưỡi để nói chuyện thị phi thì tạo nghiệp xấu.  Thay vì thuyết Pháp mà lại nói những lời thị phi vô nghĩa, chính là tạo 1.200 tội lỗi.  Đối với kẻ trong người ngoài, già, trẻ, lớn, bé, sang giàu, hèn hạ, người tu Đạo phải nên dùng tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả.  Nhờ những tâm hạnh đó mới được cảm ứng.

    Tu Đạo là tu chân thành và thiết thật.  Thế nên, có câu - Tâm thành thì được cảm ứng.  Sống trên cõi này, chúng ta phải luôn luôn làm việc lành.  Nơi mỗi hơi thở và sức lực, chúng ta đều phải làm việc lành để tích lũy công đức.  Trong hiện đời, chớ nên dựa vào căn lành đã trồng trong những đời tiền kiếp mà tận hưởng hết phước báo.  Phật có thể chuyển hóa tất cả chúng sanh thành Pháp Khí, nên có câu - Mượn cái giả để tu việc chân.  Túi da hôi thối này chỉ là căn nhà tạm bợ.  Chúng ta trú tại căn nhà này để tu Đạo, nghĩa là mượn căn nhà sắc thân giả tạm để tu thành Pháp Thân chân thật.  Nếu tâm tham lam tràn trề không biết đủ thì tương lai sẽ bị đọa lạc vào địa ngục.  Nếu từ sáng đến tối luôn giận dữ với tâm sân hận nặng nề thì sẽ trở thành ngạ quỷ.  Nếu tâm ngu si nặng nề, chỉ làm những việc ngu xuẩn thì sẽ trở thành thú vật.  Khuyết điểm lớn nhất của chúng sanh là tình ái si mê; ngày đêm chúng sanh sống trong tình ái si mê, không thể nào xả bỏ được.  Nếu chuyển được tâm háo sắc thành tâm tu học Phật pháp trong từng giây phút mà không lãng quên, thì sẽ mau chóng thành Phật.

    Người chân chánh khai ngộ thì không bao giờ nói mình đã khai ngộ.  Các bậc thánh nhân xuất hiện nơi thế gian tuyệt đối không tiết lộ chân tướng. Phàm những kẻ tự xưng là Phật hay Bồ Tát, đều là hạng tà ma.  Người có đức hạnh không phải do nơi địa vị hay tuổi tác, mà trong những hành vi lại kín đáo và im lặng, khiến tự nhiên hiển lộ phẩm cách đặc thù của họ, làm cho người khác kính nể.  Phẩm cách đặc thù này không khiến cho kẻ khác sợ sệt, vì nếu như thế thì họ sẽ lánh xa.  Mọi người đều có ba tên giặc phiền não trong nội tâm; chúng là tham lam, sân hận, si mê.  Chúng ta không cần diệt trừ chúng mà chỉ cần chuyển hóa chúng thành những hạt giống Bồ Đề.

    Niệm Phật là nhân - Thành Phật là quả - Niệm Phật thành Phật