Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

VẤN ĐÁP TỊNH ĐỘ

Niệm Phật một câu, phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa

CON ĐƯỜNG TU TẮT 
Trích Tây Qui Trực Chỉ và Lão Nhơn Ðắc Ngộ
của Ấn Quang Pháp Sư

Soạn Giả: Cư Sĩ Thiện Tâm 
Hỏi: Có kẻ tu lâu, gần lâm chung ngã mặn thôi tu, kế chết Phật rước chăng?  
Ðáp: Kẻ ấy như người đến bến đò, chờ lâu ngã lòng đi chơi, đò qua sông không hay, làm sao Phật rước đặng?  Nhưng vị này lúc bịnh ráng nguyện lại, trường trai theo phép, niệm Phật gia bội ít ngày Phật rước mau lắm, cũng như người đến bến đò đã lâu, bỏ đi chơi nay kịp chuyến đò.  Quí vị ngã mặn đã lâu, vì nghi ngại tu không kịp để thác như để hụt đò.  Uổng quá! Tiếc thay! 
Hỏi: những vị nào hồi tâm muộn quá, đôi ngày kế thác có đặng vãng sanh không? 
Ðáp: Quí vị lúc gần lâm chung, có Thiện Căn mới được. Song phải phát nguyện, xuất của bố thí tức thời, hoặc dặn con bố thí thế cho mình.  Nghèo thời dặn con trường trai trong ba năm tang.  Niệm Phật tụng Kinh Di Ðà cho mình.  Ðại nguyện như vậy, lòng phải chí thành niệm Phật nửa ngày hoặc ít giờ, Phật cũng rước về làm dân tu thêm cho khỏi phải luân hồi. 
Hỏi: Ai ăn người nấy no, con tu thế cho Cha Mẹ đặng sao? 
Ðáp: Sao không?  Vì máu thịt Cha Mẹ chia ra tuy thác như sống, trối tu như vậy thời thành, song e con cháu không chịu tu thời vong hồn tu thêm tại Tây Phương, lâu ngày cũng có quả vị.  Quí vị lúc lâm chung có Phật rước thời đặng thành. 
Hỏi: Người phàm nhiều kiếp đến nay, làm tội dữ vô số, gần chết niệm Phật mười câu sao mà đặng vãng sanh dễ như vậy? 
Ðáp: Người ấy đời nay không tu sớm mà kiếp trước có công tu nhơn tích đức mộ Đạo Phật, nay lỡ mê trần nên không tỉnh ngộ.  Nếu kiếp trước không tu thời nay chết như thế thường, đâu có may gặp người biết phép Tịnh Độ chỉ điểm lúc lâm chung, niệm Phật hết lòng cho Phật rước.  Người không có Thiện Căn dầu hết lòng chỉ điểm cũng không tin mà niệm Phật, có đâu ăn năn đắc ngộ mà Sám Hối tội lỗi xưa, bỏ hết các việc Vọng Tưởng: "Quyết một đường qua Cực Lạc, không mơ ngõ khác", lòng chí thiết không xao lãng như vậy, niệm Phật một câu bằng ngàn câu: "Mười câu bằng muôn câu", lẽ nào Ðức Phật Di Ðà không cảm động qua rước?  Kinh Thập Lục Quán nói: "Lòng thanh tịnh chí quyết, niệm mười hơi cũng đủ tiêu tội 80 ức dư kiếp trước".  Nếu quả lòng thành như vậy, nhờ có công tu kiếp trước, Ðức Phật Di Ðà qua rước chẳng sai. 
Hỏi: Nếu còn tội mà ăn năn tu niệm chí thành, cũng đặng vãng sanh về Tây Phương tu thêm mới thành Phật.  Vậy thời vội tu sớm làm chi, để hưởng mùi đời cho phỉ tình, đợi gần chết ăn không đặng sẽ trường trai, tu niệm Tịnh Độ ít ngày mà theo Phật như mấy người ác vãng sanh đó, tội gì mà tu sớm thiệt thòi lắm. 
Ðáp: Phật quí tại tâm, những ác nhơn vãng sanh là thuở nay không biết phép Tịnh Độ mà tu, nay gần lâm chung có người chỉ điểm nên hồi tâm niệm Phật, ấy là làm ác bấy lâu mà vô tâm, nay Sám Hối hồi tâm Phật mới rước, chớ tiềm tâm làm ác, tính điếm đàng xảo quyệt, Trời Phật thua trí người sao?  Trời Phật chuộng những người chân thật.  Kẻ dữ được vãng sanh vì có căn tu kiếp trước nên Phật thương tình mà xui người chỉ điểm lúc lâm chung.  Muôn người mới có một!  Có mười hạng người khi lâm chung niệm Phật không đủ mười câu: 
1. Lúc lâm chung không gặp người biết tu Tịnh Độ mà chỉ điểm
2. Oan báo theo mình cản trở không cho niệm Phật
3. Bịnh á khẩu hoặc tắt tiếng 
4. Mê sảng không biết gì
5. Bị chết chìm chết thiêu
6. Bị hùm tha sấu bắt 
7. Rắn cắn trào đờm
8. Trúng thực nhiễm gió bất tỉnh nhơn sự
9. Tử trận
10. Té cây đụng xe gẫy chân. 
Mười sự chết đó dễ gì tỉnh táo mà niệm mười câu cho minh bạch lòng không loạn tâm, hoặc niệm Phật mà còn tưởng vợ chồng con cái, nhớ của chôn lo trối trăn hậu sự dễ bị xao lãng, có đâu lòng biết ăn năn giữ thanh tịnh niệm cho đủ số.  Hoặc lòng còn nuối kẻ nọ, trông có thuật hoàn sanh, chồng khóc vợ kể, con cháu theo kêu cho rầy tai, loạn tâm lãng trí, trong lòng bối rối như tơ, khó sửa lòng thanh tịnh mà niệm đủ mười câu cho Phật rước. 
Chớ đợi đến già mới niệm Phật
Thiếu chi mồ trẻ đã qua đời
Khuyên niệm Phật than mình chưa rảnh
Ðợi bắt hồn rắp việc cũng theo! 
Nhứt là thời buổi giặc giã chiến tranh, người ta bị bom đạn chết một cách bất ngờ.  Ðâu có ai chắc mình sống đến ngày mai.  Ai biết trước số mấy mươi mà thác, đừng tin thầy coi số coi tướng nói bốc bướng mà lầm.  Thừa lúc chưa già chưa bịnh, chọn ngày sám hối lập nguyện tu lần cho có căn.  Bác thợ rèn vừa đập sắt vừa niệm Phật.  Vừa làm công việc hàng ngày để nuôi vợ con vừa tu, hoàn cảnh nào cũng tu được cả.  Chớ bảo có thời giờ mới tu được, hay là còn trẻ, dại gì tu để hưởng mùi đời cho phỉ tình rồi sẽ hay. Tử Thần đến, công việc gì gấp cũng phải buông, trẻ cũng không tha!  Nếu xảo quyệt tính cho lắm e bị sự rủi, đầu thai kiếp khác không chắc làm người hay mang lông đội sừng. Dẫu may làm người, e không ai nói Pháp cho mà nghe, không dễ gì gặp người khuyên tu Tịnh Độ theo con đường tắt;  Dẫu có người khuyên chưa chắc tin.  Mất thân người muôn kiếp khó tu mới là khổ.  Cũng bởi tính già hóa non. 
Hỏi: Người phàm dễ bị bó buộc phạm nhiều tội lỗi, các điều phiền não chưa dứt, một mảy Phước Đức chưa tu.  Còn như Tây Phương Cực Lạc trên ba cõi thiên tiên quí hơn cõi thiển đường bực Thiên Ðế bá hội.  Lẽ nào mới niệm Phật mà đặng về Cực Lạc? 
Ðáp: nhờ Phật Di Ðà rước, không phải nhờ sức mình Tham Thiền mà qua nổi Cực Lạc ở luôn.  Thí dụ: Con kiến lẩn thẩn cả đời đi không bao xa, còn sợ bị cóc liếm giữa đường, nếu đeo vào áo một người đi du lịch bằng máy bay, trong vài giờ đến xứ khác như không!  Còn tu Tịnh Ðộ, Phật Di Ðà tiếp dẫn cũng như vậy.  Nếu người tu hành cứ ỷ Tham Thiền hay Luyện Đơn, tại cõi Trần thời đầu thai hoài tu không biết mấy kiếp mà cũng không giải thoát khỏi Sanh Lão Bịnh Tử có đâu thành Phật.  Kiếp này tu kiếp sau chắc gì mình tu nữa không, hay hưởng Phước giàu sang phú quí quên tu.  Về Cực Lạc khỏi phải luân hồi, lo gì không thành Phật, La Hán.  Như con mọt trong cây gần gốc, nếu bò lên đục từ mắt đục lần cho tới ngọn thời lâu biết chừng nào?  Ấy là thí dụ cách Tham Thiền hay Luyện Đơn khổ mà lâu vô cùng, e không thành nữa.  Như con mọt chưa ra khỏi ngọn tre mà chết.  Còn tu Tịnh Độ thiệt tắt dễ nên ví như con mọt ấy, đục dựa ống tre không bao lâu đã ra khỏi!  Nên tu Tịnh Độ gọi là Hoành Xuất Tam Giới đi ngay rất mau, lo chi phàm tục không đặng vãng sanh. 
Hỏi: Trong Chín Phẩm Tòa Sen, bực thấp từ thứ bảy cho đến thứ chín, để dành cho kẻ mới tu ít Phước.  Nhứt là Tòa Sen Thứ Chín, nhiều kẻ ác mới tu, may Phước đặng vãng sanh như tích Trương Thiện Hòa, sãi Huýnh Kha, tôi e kẻ ấy về đó còn thói tà dữ, chi cho khỏi con sâu làm rầu nồi canh chăng? 
Ðáp: Lo không đặng vãng sanh, lo chi về đó mà còn làm dữ là vì có năm cớ: 
1. Có Phật gìn giữ 
2. Muốn chi có nấy không lòng tham 
3. Chim linh giảng Kinh trên Cây Báu cũng đủ hồi tâm ăn năn mà sửa lòng 
4. Ở gần Bồ Tát, bạn lành không ai rầy rà gây oán thù 
5. Sống hoài tu mãi trở nên lòng Phật; gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, xung quanh mọi người tu thời mình cũng tu theo.  Nên về Cực Lạc kiếp này cũng đặng thành Phật không thối chí nữa. 
Hỏi: Kinh nói tại thế gian, có kẻ lòng thành phát nguyện Tịnh Độ, thời trong Ao Thất Bửu cõi Cực Lạc có mọc một Cây Sen trổ ra một bông.  Lúc lâm chung Phật rước hồn người tu ngồi bay về Cực Lạc cho Liên Hoa hóa thân ngồi Tòa Sen ấy.  Nếu lúc sống tu tấn tới, bụi Sen mau ra bông, búp Sen mau lớn bằng bánh xe, có nêu tên họ người tu bên ngoài.  Tới số Phật Di Ðà ứng điềm, định ngày tiếp dẫn.  Còn ai thối chí ngã lòng, bê trễ việc tu thời Sen ấy héo dần.  Tới thôi tu thời Sen ấy rụng.  Sau tu lại, Sen này chồi lên bông khác, nếu bỏ đạo đến chết thời bụi Sen cũng chết khô.  Chẳng hay lời ấy có đáng tin chăng? 
Ðáp: Việc ấy dễ hiểu!  Như cái kiếng lớn, vật nào chiếu vào thời cũng thấy bóng y như vậy.  Cõi Cực Lạc của Phật Di Ðà rất linh, thế gian có người tu Tịnh Độ, cõi Tịnh Độ mọc Sen thêm; Sen ấy tùy theo người tu siêng năng hay bê trễ mà tươi héo gọi là giống Sen Bồ Ðề, mà cũng có Ðức Phật Di Ðà chủ trương trong đó, là lý chắc tự nhiên, lẽ nào Ðức Phật Thích Ca đặt chuyện huyễn hoặc mà nghi ngại?  "Người tu Sen Phật lên, người thành sen Phật trổ", ấy là Nhơn Quả tự nhiên. 
Hỏi: Tại sao niệm Phật Di Ðà cầu vãng sanh về nước Cực Lạc.  Thiếu chi các vị Phật khác mà buộc niệm Di Ðà mãi? 
Ðáp: 
1. Bao nhiêu công đức của Chư Phật Mười Phương, Ðức Phật A Di Ðà đều có đủ, nên niệm Phật A Di Ðà cũng như niệm đủ các vị Phật Mười Phương. Hơn nữa mỗi tháng Phật Di Ðà hội Chư Phật tại hướng nào mình có Lạy Sám Hối phát nguyện, Chư Phật Mười Phương chứng minh đâu có thiếu sót vị nào đâu.
2. Không cầu quyết một chỗ, khó nhứt tâm dễ bị xao lãng.  
3. Các cõi Phật khác không như cõi Cực Lạc, dẫu vị đó thành Phật thời hưởng tiêu diêu một nơi, chứ chư dân trong nước đều khổ não.  
4. Phật A Di Ðà phát 48 nguyện, quyết tiếp dẫn chúng sanh niệm Ngài, dầu phạm tội Ngũ Nghịch biết ăn năn hối cải Ngài cũng độ hết.  Nên ai ở cõi này, có niệm Phật thời phần đông niệm Di Ðà nhiều hơn.  Ðức Phật Thích Ca dạy nhiều phép tu luyện rất khó, trừ phép Tịnh Độ rất dễ vì biết trước đời sau chúng sanh Phước mỏng, Nghiệp dày, Đạo Phật đã mỏn, các Kinh lạc hết mà Kinh Di Ðà còn soi dấu cả trăm năm.  Bởi dễ nên ít ai tin nên mỗi lần Ngài giảng Kinh Di Ðà, Ngài có mời Chư Phật Như Lai Mười Phương đến chứng minh cho đủ tin chắc. 
Hỏi: Nước Cực Lạc cách xa cõi trần mười muôn ức thế giới xa xôi dường ấy lẽ nào người phàm đi tới? 
Ðáp: Xác phàm đi xa như vậy không đặng, chớ phần hồn có khó gì!  Vì lòng thành niệm Phật, Phật rước hồn đi không phải xác.  Thí dụ: chiêm bao đi tới nước khác ngàn muôn dặm, nghe ai kêu thời tỉnh thức dậy liền.  Có phải chiêm bao thấy đi gần thời tỉnh mau, đi xa thời tỉnh chậm sao? 
Hỏi: Kinh nói "Ai ăn chay niệm đủ 30 vạn biến vãng sanh, thời Phật Di Ðà hằng chiếu giám trên đầu, bảo hộ tai qua nạn khỏi, để làm ăn mà tu, đợi lâm chung cho biết ngày rước hồn về Cực Lạc.  Người tu Tịnh Ðộ ai thấy khoảng đó mà không ham vì niệm thêm 30 vạn có khó chi.  Di Ðà có một ông chiếu giám sao cho xiết, hơn nữa cả Mười Phương Thế Giới có biết bao nhiêu người vãng sanh cùng một lúc làm sao rước cho kịp? 
Ðáp: Rất đỗi mặt trời mặt trăng là nhỏ còn chiếu khắp trên đầu thiên hạ, huống chi là hào quang Phật.  Còn thần thông Ðức Phật A Di Ðà ba mươi sáu triệu một trăm mười chín ngàn năm trăm ông (36.119.500).  Hơn nữa Phật còn biết bao nhiêu đệ tử thành Phật đều đắc Lục Thông.  Lo mình không tu, lo chi Phật rước không kịp. 
Hỏi: Nay muốn vãng sanh Cực Lạc Tây Phương phải làm công hạnh chi?  Phát tâm làm sao?  Vả lại kẻ ở thế có vợ chồng con cái, chưa dứt đường dâm dục, kế lâm chung niệm Phật, Phật có rước không? 
Ðáp: Phật cũng rước hết.  Muốn vãng sanh cứ niệm Di Ðà.  Cư Sĩ ở nhà có vợ chồng sanh đẻ không có tội chi, miễn giữ giới kỳ cho nghiêm thời khỏi tội.  Nếu khuyên vợ chồng con cháu tu theo sau cũng vãng sanh về Cực Lạc sum họp một nhà.  Mình còn khuyên người khác tu lẽ nào để con cháu luân hồi đọa lạc sao?  Lòng phát tâm có ba cách: một là nhàm cõi trần, hai là mộ Cực Lạc, ba là phát tâm Bồ Ðề.  Cõi trần như chông gai, vì sự ăn mặc mà cực khổ cả đời.  Vì chữ danh lợi mà bôn chôn mạt kiếp.  Có người khổ nhiều có người khổ ít.  Nghèo thời lo ăn lo mặc.  Giàu thời lo giữ của giữ tiền sợ ăn cướp, song ai ai cũng không khỏi bốn điều là Sanh, Lão, Bệnh, Tử. 
1. Sanh Khổ: Còn trong bụng Mẹ không đặng thong thả, ở nơi không sạch, ăn uống huyết nhơ.  Chịu gần ba trăm ngày, gần bằng 20 năm khổ não.  Ðến lúc sanh ra ép gần móp mình, nhứt sanh nhứt tử giết Mẹ trong một khắc!  Sanh rồi bị huyết dơ tống theo, lại tiểu tiện dầm dề không biết hổ thẹn.  Dầu sang giàu Thánh Hiền cũng vậy.  Lớn lên muốn không đặng cũng khổ, ly biệt cũng khổ, oán thù giận cũng khổ. Hưởng sự vui sướng có một, bị việc tru phiền hơn tám chín.  Làm quan ngay thẳng gặp đứa gian cũng oán ghét.  Ít có ngày nào vui trọn.  Gặp sự bất bình trái ý luôn luôn.  Nằm đêm xét kỹ lại, nhờ có thê thiếp con cái làm cho khuây khỏa vài mươi năm rồi cũng già. 
2. Lão Khổ: Cảnh già khổ lắm!  Chân mỏi gối chùn, mắt mờ tai điếc, răng rụng nhai đau, tinh thần hao tổn, ăn không ngon, ngủ không được, bịnh hoạn luôn.  Trở trời trong mình đã đau nhức khó chịu.  Giàu có khó mua được sức khỏe như lúc còn xuân, ngày tháng thấm thoát như cá cạn nước lần lần. 
3. Bịnh Khổ: Ai cũng trải qua thời kỳ bệnh hoạn thời biết bịnh như thế nào.  Nằm nhà thương hay vào thăm ai nằm nhà thương thời thấy rõ khỏi nhắc lại. 
4. Chết Khổ: Tới lúc chết, giựt mình, mắt trợn tròng, tay chân co quắp dễ sợ!  Không biết chết rồi đi về đâu.  Trừ ra người tu Tịnh Độ mừng mình được bỏ xác phàm hôi thúi này.  Hâm mộ Cực Lạc như vầy: Cực Lạc hơn Thiên Ðàng thập bội khỏi luân hồi.  Lòng ao ước trông mãn phần về Cực Lạc thảnh thơi.  Phát tâm Bồ Ðề: là lòng làm lợi ích cho người. Khi phát tâm này như đồ máy được gắn điện có năng lực mạnh mẽ.  Những Công Đức bình thường không thể sánh kịp.  Nhứt là lòng từ bi thương xót chúng sanh luân hồi khổ sở, hết lòng nguyện độ và khuyên mọi người tu như mình.  
Có người hỏi Thiên Như Lão Nhơn Vĩnh Minh Thọ Thiện Sư là Thầy đứng đầu Trung Quốc, ai cũng nhường là bậc Thầy về việc tham thiền mà sao còn tu Tịnh Ðộ, thường hay đọc bài kệ giảng dạy đệ tử và bổn đạo như sau: 
Tham thiền không Tịnh Ðộ, một chục chín người khổ
Tịnh Ðộ chẳng tham thiền, tu muôn thành đủ số. 
Cứ theo bài Kệ chẳng là chê ép phép tu Tham Thiền mà bào chuốt tôn trọng, khen ngợi cách tu Tịnh Ðộ thái quá chăng? 
Lão Nhơn đáp: Không phải Vĩnh Minh Ðại Sư khen phép tu Tịnh Ðộ thái quá.  Thiệt phép Tịnh Ðộ rất rộng lớn, cách tu rất tiện dễ, sao gọi là phép rộng lớn?  Bởi hết thảy phép tu đều rút tóm rút vào đủ, trừ bực thượng là Phật, bậc trung là Bồ Tát, bậc hạ là Thinh Văn, Duyên Giác, bậc dưới chót là kẻ dốt hoặc phạm tội Ngũ Nghịch, Thập Ác nếu chịu ăn năn chừa dữ tu theo Tịnh Ðộ, không cần lâu mau, không đợi trường trai 24 tháng, cơn lâm chung niệm Phật không xao lãng; Phật cũng rước về Cực Lạc.  Còn tiện dễ là: không có học chi khó, làm chi mệt, kẻ sáng dạ niệm thêm 30 vạn biến vãng sanh, kẻ tối dạ không thuộc vãng sanh cứ niệm Nam Mô A Di Ðà Phật cho đủ 30 vạn câu thì đủ.  Sau dư tu thêm lâm chung niệm Phật mười câu, Phật Di Ðà cũng rước.  Về Cực Lạc Liên Hoa hóa thân, tu thêm cho tới thành Phật.  Hỏi thử có phép tu nào dễ mà mau thành Phật như vậy chăng?  Nếu ai không trí huệ như Vĩnh Minh Thiền Sư thời cũng không lo tu thêm Tịnh Ðộ và khuyên người tu Tịnh Ðộ như mình. 
Hỏi: Hòa thượng, Ðại đức đã thông hiểu Tham Thiền kiến tánh thành Phật cũng đủ, phải tu thêm Tịnh Ðộ làm chi? 
Ðáp: Quí vị thông thái muốn tu thêm Tịnh Ðộ như Vĩnh Minh Thiền Sư thời nôn và nóng theo Tịnh Ðộ, sức muôn con trâu kéo cũng không thèm trở lại hốt vàng rồi sẽ tu thêm Tịnh Ðộ.  Nếu thông phép Tham Thiền mà chắc sẽ thành Phật, thời các vị Ðại Bồ Tát trước khi Tham Thiền đã sáu bực nhiều kiếp mà chưa thành còn phải tu thêm Tịnh Ðộ mới thành Bồ Tát.  Kinh Tam Muội nói: "Văn Thù Bồ Tát thuật chuyện cũ của mình; gọi mình nhờ niệm Phật mới thành Chánh Quả".  Phật Thế Tôn làm dấu trên đầu nói rằng: "Ngươi nhờ niệm Phật mà đặng vãng sanh Cực Lạc, chớ có nói Tham Thiền giỏi đâu".  Kinh Hoa Nghiêm nói: "Phổ Hiền Bồ Tát lấy mười điều nguyện lớn mà dạy Thiện Tài Ðồng Tử cũng tu Tịnh Ðộ, cho Phật rước vãng sanh là quí hơn hết".  Kinh Lăng Già nói: "Phật Thế Tôn thọ ký cho Long Thọ Bồ Tát mới vãng sanh Cực Lạc".  Ngũ Thông Bồ Tát người nước Thiên Trúc tu luyện Tham Thiền, xuất hồn qua Cực Lạc ra mắt Phật Di Ðà bạch rằng: "Tôi là chúng sinh cõi Ta Bà nguyện vãng sanh Tịnh Ðộ, nay xin Phật hiện hình rước có nghi tiết".  Ấy cũng phải tu thêm Tịnh Ðộ mà Phật rước nào chỉ lấy sức Tham Thiền đặng lên cảnh Phật mà ở luôn sao?  Thử hỏi được bao nhiêu vị Tham Thiền xuất hồn đến cảnh giới Cực Lạc? 
Trích TÂY QUY TRỰC CHỈ và LÃO NHƠN ĐẮC NGỘ của Ấn Quang Pháp Sư
Niệm Phật là nhân - Thành Phật là quả - Niệm Phật thành Phật

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

THÂN TRUNG HỮU

Niệm Phật một câu, phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa


THÂN TRUNG HỮU - TRUNG ẤM THÂN
Trích dẫn PHẬT HỌC TINH YẾU - Thiên Thứ Hai
Cố H/T. Thích Thiền Tâm

Loài hữu tình sau khi mạng chung, đã bỏ Thân Tiền Hữu, chưa thọ Thân Hậu Hữu thì ở vào giai đoạn cảm Thân Trung Hữu.  Thân Trung Hữu nầy do Năm Ấm vi tế kết hợp, nên cũng gọi là Trung Ấm Thân.  Trong đây, trừ những chúng sanh tạo Nghiệp Cực Thiện thuộc cõi Vô Sắc, hoặc Nghiệp Cực Ác thuộc nẻo A Tỳ, thì liền hóa sanh ngay những nơi đó, mà không trải qua Trung Ấm Thân.  Ba tiết trước của bản chương thuật lại hình dáng xấu đẹp sai biệt của những Trung Ấm Thân thuộc các nẻo thiện ác, trạng thái của Trung Hữu lúc vào thai và khi chuyển thọ Thân Hậu Hữu ở trong thai.  Hai tiết mục kế, nói về tiên triệu khi chúng sanh lâm chung sẽ sanh về ác đạo hay thiện đạo, cùng những cảnh tướng hiển hiện khi Trung Hữu sắp sanh về các nẻo.  Tiết sau cùng nói tổng quát về Nghiệp Duyên của chúng sanh thăng trầm trong Tam Giới, hoặc được siêu sanh về Tịnh Độ.  Mục đích của chương nầy là trình bày cảnh duyên thiện ác, cho người học Phật bỏ điều dữ tu Pháp Lành, và biết trước các Nghiệp Tướng để tìm nẻo thiện sanh, tránh đường sa đọa.


THÂN TRUNG HỮU

Sao gọi là Trung Hữu?  Trung Hữu là Thân Quả Báo ở khoảng giữa của đời nầy và đời sau, vì Quả Báo ấy có mà chẳng phải không, nên gọi là “Hữu”.  Trung Hữu cũng gọi là Trung Ấm, vì thân ấy do Năm Ấm tạo thành.


Đức Phật bảo Nan Đà:
"Khi Cha Mẹ giao hợp là lúc Thân Trung Hữu vào thai.  Trung Ấm có hai loại:  hình sắc xinh đẹp, và dung mạo xấu xa.  Trung Hữu của Địa Ngục hình rất xấu, sắc Đen như than.  Trung Hữu của Bàng Sanh sắc nám như khói.  Trung Hữu của Ngạ Quỷ sắc đạm như nước.  Trung Hữu của người và Trời Dục Giới sắc như Vàng ròng.  Trung Hữu của Chư Thiên cõi Sắc rất đẹp, màu tươi Trắng sáng rỡ.  Thân Trung Ấm của hàng nhơn Thiên ở cõi Dục, đại để bằng đứa trẻ năm bảy tuổi.  Thân Trung Ấm của chúng sanh cõi Sắc lớn bằng Thân Bản Hữu và có y phục vì do nhiều chủng tử tàm tu.  Chúng sanh ở cõi Vô Sắc không có Trung Ấm Thân, bởi vì không hình sắc.  Loài hữu tình cực thiện như Nghiệp Báo cõi Vô Sắc và cực ác như Nghiệp Báo Ngục A Tỳ, khi chết rồi liền thọ sanh ngay, không trải qua thân Trung Hữu.  Trung Ấm Thân có loại hai tay hai chân, có loại bốn chân, nhiều chân, hoặc không chân.  Đại khái, chúng hữu tình tùy theo Nghiệp đã tạo, phải thác sanh về nẻo nào, loài nào, thì Trung Ấm Thân có hình dáng giống như loài ấy.  Trung Hữu của Chư Thiên đầu hướng lên, Trung Hữu của người, Bàng Sanh và Quỷ nằm ngang mà bay đi.  Trung Hữu của chúng sanh cõi Địa Ngục đầu trúc xuống.  Các Trung Ấm Thân đều có Thần Thông, nương hư không mà đi, thị tuyến rất xa và sáng suốt, trong khoảnh khắc đã tìm đến chỗ phải thọ sanh."  (Tỳ Nại Gia Tạp Sự)



Trung Ấm Thân cũng có đủ các căn.  Trung Hữu của kẻ tạo Nghiệp Ác, ánh ra sắc Đen xám cũng như đêm tối tăm.  Trung Hữu của kẻ tạo Nghiệp Thiện ánh ra sắc Trắng như đêm trong sáng.  Mắt của Trung Ấm Thân nhìn suốt xa như Thiên Nhãn không bị chướng ngại, thấy các Trung Hữu khác và chỗ mình sẽ thọ sanh.  Trong giây phút Trung Ấm Thân có thể bay vòng quanh giáp núi Tu Di, lại có thể đi xuyên qua tường vách núi non không chi chướng ngại, trừ ra thai Mẹ và tòa Kim Cang của Phật.  Những Trung Hữu thuộc về Nghiệp Ác, úp mặt nhìn xuống mà bay đi, còn những Trung Hữu thuộc về Nghiệp Thiện thì đầu ngước lên.



Trung Ấm Thân chỉ trụ được bảy ngày đêm, nếu trong thời hạn ấy không tìm được chỗ thác sanh, thì chết rồi sống lại, nhưng đại khái trong vòng 49 ngày là được thọ sanh.  Trung Hữu khi chết, hoặc sanh trở lại như thân trước, hoặc do Nghiệp lành dữ chuyển biến, đổi lại thành thân của các loại khác.  Trung Ấm cũng có tên là Kiền Đạt Phược (Hương Hành), vì đi tìm mùi, dùng mùi mà tự nuôi sống.  Lại Trung Hữu khi sắp diệt để thọ Thân Hậu Hữu, tùy theo Nghiệp đã tạo, thấy nhiều tướng khác nhau; bấy giờ tâm thức mơ màng dường như ở trong mộng.  Những kẻ tạo Nghiệp Sát, hay giết heo, dê, gà, vịt, tôm, cá, thì lúc ấy thấy những loài đó, lại thấy có người đang làm thịt, tùy theo Túc Nghiệp tự nhiên sanh ra ưa thích muốn đi đến xem.  Khi đến nơi liền bị cảnh sắc làm trở ngại không thể thoát ly, Trung Hữu liền diệt mà thọ Thân Hậu Hữu.  Lúc sắp diệt, Trung Ấm thấy nhiều màu sắc sanh diệt liên tục, như người sắp chết thấy những hình tướng tạp loạn, mắt chăm chú nhìn, tay chỉ chỗ nầy chỗ khác.  (Luận Du Già)



TRẠNG THÁI LÚC THỌ THAI

Trường hợp nào thân Trung Hữu không vào thai được?  Đó là những lúc Cha Mẹ không giao hợp, hoặc khi giao hợp tinh Cha ra tinh Mẹ không ra, tinh Mẹ ra tinh Cha không ra, hoặc đều không ra.  Lại nữa, hoặc khi người Mẹ quá mập, nhiều thịt dư, hay có các chứng bịnh như tử cung lạnh, khí huyết kết thành cục, vàng võ nhiều đàm, hoặc do uống thuốc cấm thai, cùng các chứng bịnh riêng của người Cha.  Về phần Nghiệp Báo, nếu Cha Mẹ tôn quý con ty tiện, hay là trái lại, thì không thể thành thai.  Hoặc có khi Cha Mẹ cùng con đều tôn quý hay đều ty tiện, nhưng Nghiệp Duyên không hợp cũng không thể thành thai.



Đức Phật bảo:
"Nầy Nan Đà!  Nếu không có các trường hợp như trên, thì Trung Hữu mới vào thai Mẹ.  Như các duyên đều thuận, khi Cha Mẹ giao hợp, Thân Trung Ấm ở xa trông thấy ánh sáng liền bay đến đó.  Lúc ấy, do Túc Nghiệp, Trung Hữu liền khởi ra các sự vọng tưởng; như Trung Ấm nam thì đối với Mẹ sanh lòng mến yêu, với Cha lại ganh ghét; Trung Hữu nữ thì đối với Mẹ sanh lòng ganh ghét, với Cha lại mến yêu; hoặc nam hoặc nữ đều thấy chính mình làm việc ân ái với Cha hay Mẹ.  Bấy giờ Trung Ấm bổng có cảm giác nóng hoặc lạnh, hay thấy mưa to, gió lớn, mây mù nổi lên, hoặc nghe nhiều tiếng huyên náo đáng chán buồn, hay tiếng thanh tao đáng ưa thích.  Khi các vọng tâm, huyễn cảnh nầy hiện ra, tùy nghiệp hơn kém, Trung Hữu lại khởi sanh mười Huyễn Tướng khác như:  nay ta vào nhà, ta muốn lên lầu, ta lên đền đài cao đẹp, ta lên ngồi trên giường ghế, ta vào am tranh, ta vào chòi lá, ta đi vô rừng, ta vào lùm bụi, ta xuyên qua lỗ tường vách, ta chui vào hàng rào.  Khi khởi các tưởng niệm như trên xong, Trung Hữu liền vào thai.  Sự kết thai đây có ba điều kiện hỗn hợp:  tinh Cha, huyết Mẹ và Nghiệp Thức.  Trạng thái nầy ví như người để sữa chín vào bình, rồi lấy đủa quậy đánh mãi cho đến khi dậy lên thành ra vị tô.  Kết quả hổn hợp của tinh Cha, huyết Mẹ, Nghiệp Thức hòa thành một khối gọi là Yết La Lam.



Nầy Nan Đà!  Ví như loại thảo trùng nương nơi cỏ mà sanh, cỏ không phải trùng, trùng không lìa cỏ, nhưng do nhân duyên cỏ hòa hợp mà con trùng thân sắc màu xanh.  Trường hợp nầy cũng như con bọ hung sanh nơi phân trâu, thân sắc màu vàng sậm.  Nên biết thân Yết La Lam do tinh Cha huyết Mẹ cũng lại như thế.  Lại nữa, thân Yết La Lam phải có đủ bốn giới:  Địa, Thủy, Hỏa, Phong, tức là các tánh chất:  cứng đặc, ướt nhuần, nóng ấm và khinh động.  Nếu thân ấy chỉ có địa giới thiếu thủy giới thì không thành; ví như người dùng tay nắm bột hoặc tro khô, khi buông tay ra, tro bột đều bay tan.  Trường hợp có thủy giới thiếu địa giới cũng như thế; ví như người chỉ nhồi nước hoặc dầu, rốt cuộc vẫn là chất tan lỏng không kết thành khối được.  Nên biết do Thủy Giới nên Địa Giới không rã, do Địa Giới nên Thủy Giới không tan.  Và nếu Yết La Lam thiếu Phong Giới thì không thể tăng trưởng, thiếu Hỏa Giới thì không thể thành thục.  Cho nên sắc thân con người khởi thỉ từ Yết La Lam do các duyên hòa hợp mà có sanh, trụ, tăng trưởng, suy hoại, thật rất đáng chán, ta không chút chi ưa thích!  Xét ra sanh tức là khổ, trụ là bịnh, tăng trưởng, suy hoại tức là già, chết.  Kẻ nào đối với biển hữu vi mà sanh lòng ưa thích, tất phải nằm trong thai Mẹ, chịu đủ các điều khổ".  (Luận Du Già, Tỳ Nại Gia Tạp Sự)



TRẠNG THÁI KHI Ở TRONG THAI

Đức Phật bảo:
"Nầy A Nan!  Thân Yết La Lam ở nơi thai Mẹ trong bảy ngày đầu, hình dáng như sữa tươi, từ đó do sức nội nhiệt, lần lần tăng trưởng.  Trong khoảng bảy ngày thứ hai, cảm phát Gió Nghiệp tên là Biến Mãn, thổi hai bên hông người Mẹ, khiến cho Yết La Lam đọng lại như sữa đặc, sắp hiện ra tướng trạng người, gọi là An Phù Đà.  Trong khoảng bảy ngày thứ ba, cảm phát Gió Nghiệp tên là Tàng Khẩu; so sức gió nầy thân An Phù Đà có hình dáng hai cánh tay khép lại, giống như cái chày đâm thuốc.  Trong khoảng bảy ngày thứ tư, cảm phát Gió Nghiệp tên là Nhiếp Thủ; do sức gió nầy biến tướng hai cánh tay khép lại thành ra Dà Na (mật hậu, mật hiệp), hình như chiếc giày cong cong.  Trong khoảng bảy ngày thứ năm, cảm phát Gió Nghiệp tên là Nhiếp Trì; do sức gió nầy chuyển biến Dà Na thành Bát La Xa Khê (nhục đoàn vị), hiện ra tướng hai bên mông, hai vai, thân và đầu.  Trong khoảng bảy ngày thứ sáu, cảm phát Gió Nghiệp tên là Vi Phạn; do sức gió nầy chuyển thành bốn tướng là hai cánh tay và hai bắp chơn.  Trong khoảng bảy ngày thứ bảy, cảm phát Gió Nghiệp tên là Toàn Chuyển; do sức gió nầy, thai nhi lần hiện ra hai bàn tay hai bàn chơn.  Trong khoảng bảy ngày thứ tám cảm phát Gió Nghiệp tên là Phiên Chuyển; do sức gió nầy, mười ngón tay và chơn sanh ra đầy đủ.  Trong khoảng bảy ngày thứ chín, cảm phát Gió Nghiệp tên là Phân Tán; do sức gió nầy sanh ra các tướng; mặt, tai, mũi, miệng và đường đại tiểu tiện.  Trong khoảng bảy ngày thứ mười, cảm phát hai luồng Gió Nghiệp tên là Kiên Tiên và Phổ Môn, hai thứ gió nầy làm cho thai nhi đọng chắc lại và phồng no đầy đủ dường như cái pháo.  Trong khoảng bảy ngày thứ 11, cảm phát Gió Nghiệp tên là Kim Cang, sức gió nầy làm cho thai nhi cửu khiếu đều thông, tay chơn máy động, miệng tươm máu bầm, mũi chảy ra nước.  Trong khoảng bảy ngày thứ 12, cảm phát hai luồng Gió Nghiệp tên là Khúc Khẩu, Xuyên Phát; sức thổi của hai thứ gió nầy khiến cho sanh ra đại tiểu trường, 320 chi tiết và 101 yếu huyệt.  Trong khoảng bảy ngày thứ 13, cảm phát Gió Nghiệp tên là Cơ Khát; do sức gió nầy, thai nhi bỗng sanh ra niệm đói khát, từ nơi cuống rún thâu rút chất bổ ăn uống của người mẹ vào, để tự nuôi dưỡng".  


Lúc ấy, Ðức Thế Tôn nói bài kệ:

Đứa bé trong thai Mẹ

Mười ba lần bảy ngày

Cảm giác thân trống không

Liền sanh niệm đói khát

Thức ăn của người Mẹ

Tư dưỡng vào thai nhi

Do đó thân mạng còn

Lần lần được thêm lớn. 



"Nầy A Nan!  Trong khoảng bảy ngày thứ 14, cảm phát Gió Nghiệp tên là Tuyến Khẩu; do sức gió nầy 900 đường gân sanh ra.  Trong khoảng bảy ngày thứ 15, cảm phát gió nghiệp tên là Liên Hoa, sức gió nầy làm cho sanh ra 20 mạch lớn, chất ăn uống chạy theo đó mà tư dưỡng thai nhi.  Mỗi mạch lớn có 40 mạch trung, mỗi mạch trung lại có 100 mạch nhỏ, thành ra tám vạn mạch có đủ màu sắc:  xanh, vàng, đỏ, trắng.  Những mạch nầy liên quan với các lỗ chân lông.  Trong khoảng bảy ngày thứ 16, cảm phát Gió Nghiệp tên là Cam Lộ, sức gió nầy làm cho cửu khiếu đều thông các tạng bên trong, hơi thở lưu chuyển theo thân thai nhi không còn trở ngại.  Trong khoảng bảy ngày thứ 17, cảm phát Gió Nghiệp tên là Mạo Ngưu Diện; sức gió nầy làm cho đôi mắt thai nhi sáng sạch, các căn khác lần lần thành tựu.  Trong khoảng bảy ngày thứ 18 cảm phát Gió Nghiệp tên là Đại Kiên Cường, sức gió nầy làm cho các căn tươi sạch, như gió thổi mây tan lộ ánh nhựt nguyệt.  Trong khoảng bảy ngày thứ 19, cũng do sức gió trước, từ thân căn, mạng căn, ý căn, cho đến các căn khác thảy đều thành tựu đầy đủ.  Trong khoảng bảy ngày thứ 20 cảm phát Gió Nghiệp tên là Kiên Cố; do sức gió nầy, các thứ xương thân đều sanh ra.  Trong khoảng bảy ngày thứ 21, cảm phát Gió Nghiệp tên là Sanh Khởi, sức gió nầy làm cho sanh ra thịt.  Trong khoảng bảy ngày thứ 22, cảm phát Gió Nghiệp tên là Phù Lưu, sức gió nầy làm cho sanh ra máu.  Trong khoảng bảy ngày thứ 23, cảm phát Gió Nghiệp tên là Tịnh Trì; sức gió nầy làm cho sanh ra da.  Trong khoảng bảy ngày thứ 24, cảm phát Gió Nghiệp tên là Trì Vân, sức gió nầy làm cho bì phu có sắc tươi nhuần.  Trong khoảng bảy ngày thứ 25, cảm phát Gió Nghiệp tên là Trì Thành, sức gió nầy làm cho máu thịt của thai nhi lần lần được tư nhuận.  Trong khoảng bảy ngày thứ 26, cảm phát Gió Nghiệp tên là Sanh Thành, sức gió nầy làm cho sanh ra tóc, lông, móng tay và chơn.  Trong khoảng bảy ngày thứ 27, cảm phát Gió Nghiệp tên là Khúc Dược; sức gió nầy làm cho thân tướng được thành tựu".

Khi ấy, Ðức Thế Tôn nói bài kệ:
Đứa bé trong thai Mẹ

Hăm bảy lần bảy ngày

Do các Nghiệp lành dữ

Thân tướng hiện xấu đẹp. 

Nếu thai nhi là trai

Ở hông bên mặt Mẹ

Ngồi co, tay che mặt

Hướng về phía xương sống. 

Như thai nhi là gái

Thì ở hông bên trái

Hai tay úp vào mặt

Ngồi hướng về trước bụng. 

Khi người Mẹ đi mau

Hoặc ngồi nằm hơi lâu

Hoặc ăn các mùi vị

Nóng, lạnh không hợp thân

Hoặc ăn ít ăn nhiều. 

Thai nhi đều chịu khổ. 

Cho nên người có trí

Chớ mến nẻo luân hồi. 




"Lại nữa, A Nan!  Trong khoảng bảy ngày thứ 28, thai nhi sanh ra tám thứ vọng tưởng điên đảo như: mình ngồi xe ngựa hoặc đi thuyền, ở lầu cao, nằm trên giường, nghe suối chảy, đến đầm ao, thấy sông rộng, ở khu vườn nhỏ, vào hoa viên to.  Trong khoảng bảy ngày thứ 29, cảm phát Gió Nghiệp tên là Hoa Điều, sức gió nầy làm cho thai thân sáng sủa, các tướng phân minh; do Nghiệp lành dữ đời trước, thai nhi hoặc đen, hoặc trắng, hoặc không đen trắng, hoặc có các màu sắc khác, hoặc khô khan, hoặc tươi nhuận.  Trong khoảng bảy ngày thứ 30, cảm phát Gió Nghiệp tên là Thiết Khẩu; do sức gió nầy, tóc lông móng tay chơn đều dài ra.  Trong khoảng bảy ngày thứ 31, đến 35, thai thân lần lần lớn, nhơn tướng đầy đủ.  Trong khoảng bảy ngày thứ 36, thai nhi sanh lòng nhàm chán, không vui.  Trong khoảng bảy ngày thứ 37, thai nhi khởi ra năm tưởng niệm điên đảo:  tưởng tướng bất tịnh, tưởng sự hôi nhơ, ở trong tù ngục, ở chỗ tối tăm, mình thấy buồn chán.  Trong khoảng bảy ngày thứ 38, cảm phát hai luồng Gió Nghiệp tên là Câu Duyên và Thú Hạ; sức thổi của hai thứ gió nầy làm cho thai nhi xoay chuyển, đầu trở xuống dưới, xuôi hai tay như sắp muốn ra.  Nếu đứa bé đời trước có tạo Nghiệp đọa lạc, thì tay chơn ngang dọc xoay trở không được, chết trong bụng Mẹ; làm cho người Mẹ rất đau đớn khổ sở hoặc có thể mạng chung.  Như đứa bé đời trước tạo những Nghiệp lành hay gây nhân sống lâu, thì khi sanh ra, Mẹ con đều an ổn.  (Kinh Đại Bảo Tích)



"Nếu thai nhi ở trong bụng Mẹ được chín tháng hay hơn chín tháng mới sanh ra gọi là viên mãn.  Như chỉ có tám, bảy hay sáu tháng, thì không gọi là viên mãn.  Thai tạng khi sanh trưởng có tám vị sai biệt:  Yết La Lam, Yết Bộ Đàm, Bế Thi, Kiền Nam, Bát La Xa Khê, Phát Mao Trảo, Căn Vị, Hình Vị.  Yết La Lam Vị là lúc tinh huyết mới kết động còn hơi lỏng hình như mũi tên.  Yết Bộ Đàm Vị (cũng gọi là An Phù Đà) là lúc thai tạng chưa sanh thịt, trong ngoài như sữa đặc.  Yết Bộ Đàm Vị là lúc thai nhi mới tượng hình, có dáng hai cánh tay khép lại, thịt đã sanh mà còn rất mềm.  Kiền Nam Vị (cũng gọi là Dà Na) là lúc khối thịt đã hơi cứng có thể xoa rờ được.  Bát La Xa Khê Vị (cũng gọi là Ban La Xa Khê) là lúc thai nhục lớn lên hiện ra tướng tay chân và đầu.  Phát Mao Trảo Vị là lúc tóc, lông, móng tay và chơn hiện ra.  Căn Vị là lúc phát sanh mắt, tai, mũi, miệng, và đường đại tiểu tiện.  Hình Vị là lúc các tướng nơi thân hiện ra đầy đủ rõ ràng.



Lại thai nhi còn do Nghiệp đời trước của mình, hoặc ảnh hưởng bởi người Mẹ gây ra, mà tóc lông, màu sắc làn da, hoặc chi phần có sự biến đổi.  Nếu trong lúc mang thai, người Mẹ ăn nhiều chất vôi, chất mặn, đứa con bị nguyên nhân ấy mà tóc lông thưa ít.  Như người Mẹ ở nơi chật hẹp nóng bức, hoặc thường gần chỗ lửa nóng, đứa con bị ảnh hưởng đó, màu da trở nên đen đúa; nếu trái lại, thường ở chỗ lạnh, thì đứa con màu da trắng.  Hoặc người Mẹ thích ăn nhiều chất nóng, về sau hài nhi sẽ có màu da hung đỏ.  Nếu trong lúc cấn thai, người Mẹ còn nhiều dâm dục, đứa con sẽ có làn da ghẻ chốc, sần sùi.  Trong lúc thai nghén, người Mẹ không khéo giữ gìn, thường chạy nhảy làm việc xốc xáo nặng nề, do ảnh hưởng đó, các chi phần của đứa con hoặc xiên xẹo hoặc không đầy đủ".  (Luận Du Già)

Niệm Phật một câu, phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa

SỰ THỌ SANH

Niệm Phật một câu, phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa


SỰ THỌ SANH
Trích dẫn PHẬT HỌC TINH YẾU - Thiên Thứ Hai
Cố H/T. Thích Thiền Tâm
SANH VỀ ÁC ĐẠO
Con người khi sắp chết, thân tâm hôn muội như ngủ mà không có chiêm bao.  Lúc ấy minh liễu ý thức không hiện khởi, không thể biết được cảnh sở duyên của Sáu Chuyển Thức, đó là Tán Hữu Tâm cũng gọi Sanh Tử Tâm.  Bấy giờ do Nghiệp lành dữ, thân phần lần lần lạnh, chỗ nào còn nóng sau rốt, là thần thức ra nơi đó.  Có bài tụng rằng:
“Đảnh sanh cõi Thánh mắt sanh Trời.  Bụng nóng Ngạ Quỷ, tim nóng Người.  Bàng Sanh thần thức ra đầu gối.  Nóng ở bàn chơn Địa Ngục thôi!”  (Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận)
Người nào khi lâm chung, sắp đọa vào loài Bàng Sanh, thì có những tiên triệu như sau:
1.  Thân mang bịnh nặng tâm mê mờ tán loạn như ở trong mây mù
2.  Sợ nghe danh hiệu Phật, không chịu ai khuyên bảo điều lành
3.  Ưa thích mùi cá thịt
4.  Quyến luyến vợ con, đắm đuối không bỏ
5.  Các ngón tay và chơn đều co quắp
6.  Cả mình toát ra mồ hôi
7.  Khóe miệng chảy ra nước
8.  Tiếng nói khò khè hoặc rít róng khó nghe
9.  Miệng thường ngậm đồ ăn.
Người nào khi lâm chung, sắp đọa vào đường Ngạ Quỷ, thì có những tiên triệu như sau:
1.  Thân mình nóng như lửa
2.  Lưỡi luôn luôn liếm môi
3. Thường cảm thấy đói khát, ưa nói đến việc ăn uống
4.  Miệng hả ra không ngậm lại
5.  Tham tiếc tiền của, dây dưa khó chết
6.  Mắt thường trương lên mà không nhắm
7.  Đôi mắt khô khan như mắt chim gỗ
8.  Không có tiểu tiện nhưng đại tiện thì nhiều
9.  Đầu gối bên mặt lạnh trước
10.  Tay bên mặt thường nắm lại, tiêu biểu cho lòng bỏn sẻn
11.  Lúc tắt hơi hai mắt vẫn mở.
Người nào khi lâm chung, sắp đọa vào nẻo Địa Ngục, thì có những tiên triệu như sau:
1.  Nhìn ngó thân quyến bằng con mắt giận ghét
2.  Đưa tay lên quờ quạng hư không
3.  Đi đại tiểu tiện không tự biết
4.  Thân thường có mùi hôi hám
5.  Nằm úp mặt xuống hoặc che giấu mặt mày
6.  Hai mắt đỏ ngầu
7.  Nằm co về bên trái
8.  Xương lóng đau nhức
9.  Thiện tri thức dù có chỉ bảo, họ cũng không tùy thuận
10.  Nhắm nghiền đôi mắt không mở
11.  Mắt bên trái hay động đậy
12.  Sống mũi xiên xẹo
13.  Gót chân đầu gối luôn luôn run rẩy
14.  Thấy ác tướng vẻ mặt sợ sệt mà nói không được, hoặc sảng sốt kêu la bảo là quỷ hiện
15.  Tâm thức rối loạn
16.  Cả mình giá lạnh, tay nắm lại, thân thể cứng đơ.  (Kinh Thủ Hộ Quốc Giới)
Thân Trung Ấm nào sắp sanh về cõi A Tu La, thì sẽ thấy có những vườn cây khả ái và những vầng lửa lẫn lộn chuyển xoay.  Nếu thấy cảnh tượng ấy sanh lòng vui vẻ đi đến đó, tức là thác sanh vào nẻo nầy.
Trung Ấm nào sắp đọa vào loài chó lợn thường thấy nhiều cô gái đẹp, mình ưa thích chạy theo; do nhân duyên đó mà bị thác thai.  Trung Ấm nào sắp đọa vào các loài Bàng Sanh khác, cảm thấy có luồng gió mãnh liệt cuốn lôi không tự cưỡng lại được, hoặc thấy vô số Quỷ Thần cầm binh trượng đuổi theo hoặc thấy lửa cháy lan tới rần rần, sấm sét phủ đầu dữ dội, sương mù phủ giăng mịt mịt, núi lở biển dậy ầm ầm, tự mình sợ hãi chạy vào rừng bụi, hang đá mà lẩn trốn; hoặc đang khi ấy thấy ba cái hố trắng, đỏ, đen, liền nhào xuống mà ẩn thân.  Do nhân duyên đó bị thọ sanh vào dị loại như hùm, beo, nai, chồn, rắn, rít...
Những Trung Ấm nào sắp đọa vào đường Ngạ Quỷ thì tự thấy, có một bãi sa mạc rộng lớn mênh mông không cây cối, hoặc chỉ có những hang hố cỏ cây khô héo.  Lúc ấy tự mình bị sức Gió Nghiệp đưa đến đó, liền thác sanh vào Ngạ Quỷ đạo, chịu nhiều sự nóng bức, đói khát khổ sở vô cùng!
Trung Ấm nào sắp sanh vào Địa Ngục bỗng nghe những khúc ca hết sức bi ai buồn thảm, thấy cảnh giới mù mịt tối tăm, nhà cửa sắc đen hay trắng, hoặc thấy hang hố sâu thẳm, đường sá lờ mờ.  Lúc ấy chính mình bị quỷ xua đuổi vào trong đó, khi vào rồi thì thân không được tự do, liền bị thác sanh.  Trung-ấm nào sắp đọa vào Ngục Hàn Băng, do Sức Nghiệp bỗng nhiên thân thể nóng bức không kham, gặp hơi lạnh ở Hàn Ngục xông lên, tự cảm thấy mát mẻ dễ chịu, khởi lòng ưa thích vội vã bay xuống nơi đó, lúc ấy liền bị thác sanh.  Trung Ấm nào sắp đọa vào Ngục Viêm Nhiệt, do Sức Nghiệp, bỗng nhiên thân thể giá rét không kham, gặp hơi nóng ở Hỏa Ngục xông lên, tự cảm thấy ấm áp dễ chịu, khởi lòng ưa thích vội vã bay xuống nơi đó, lúc ấy liền bị thọ sanh.  Trung Ấm nào sắp đọa vào Ngục Phẩn Uế, do Sức Nghiệp, bỗng cảm thấy một mùi thơm ngạt ngào chịu không kham, bấy giờ trong tâm ước ao muốn tìm nơi có mùi hôi thúi để đánh át bớt mùi thơm đó; bởi nhân duyên ấy mà bị thọ sanh.
Lại Trung Ấm nào thấy Ánh Sáng màu Lục lờ mờ, ưa thích đi vào đó, liền thác sanh về cõi A Tu La.  Trung Ấm nào thấy Ánh Sáng màu hơi Xanh, ưa thích đi vào đó, liền bị thọ thân Bàng Sanh.  Trung Ấm nào thấy Ánh Sáng màu hơi Đỏ, ưa thích đi đến đó, liền thác sanh vào loài Ngạ Quỷ.  Trung Ấm nào thấy Ánh Sáng mờ đục như khói Đen, ưa thích đi đến đó, liền thác sanh vào nẻo Địa Ngục.  (Tạp Sự Lục)
Đức Phật bảo Đại Dược Bồ Tát:
"Những chúng sanh tạo Nghiệp Ác, sắp đọa vào Nại Lạc Ca, tự nhiên có lòng buồn thảm kinh sợ tùy theo Bản Nghiệp thấy hình tướng của các thứ Địa Ngục, khi thần thức lìa thân liền sanh vào nơi đó.  Hoặc có kẻ thấy phương khác có dáng đỏ tươi dường như máu rưới, liền sanh lòng nhiễm trước, do nhân duyên đó mà thọ sanh".  


Bấy giờ Ngài Bạt Đà La Bà Lê thưa:  Bạch Thế Tôn!  Các chúng sanh ở Nại Lạc Ca thân hình có những màu sắc gì?  Sự thọ thân như thế nào?  Đức Phật bảo:
"Nếu chúng sanh nào nhiễm trước chỗ máu, thì thân thể Đỏ như sắc máu.  Nếu chúng sanh nào nhiễm trước sông Tỳ La Ni (Nan Độ Hà), thì thân thể như sắc mây không trắng không đen.  Nếu chúng sanh nào nhiễm trước khôi hà, thì thân thể có sắc vằn.  Chúng sanh ở những nơi đó thọ thân to lớn, cao tám chẩu rưỡi, râu ria cùng tóc rất dài, bàn chơn hướng về phía sau.  Giả sử người ở cõi Diêm Phù được trông thấy hình tướng ghê gớm của các chúng sanh ấy, cũng phải kinh sợ mà chết!"  (Kinh Đại Bảo Tích). 


SANH VỀ THIỆN ĐẠO
Người nào khi lâm chung, sẽ sanh lại cõi người thì có những tiên triệu như sau:
1.  Thân không bịnh nặng
2.  Khởi niệm lành, sanh lòng hòa dịu, lòng vui vẻ vô tư, ưa việc Phước Đức
3.  Ít sự nói phô, nhớ nghĩ đến Cha Mẹ vợ con
4. Đối với việc lành hay dữ, tâm không lầm loạn 
5. Sanh lòng tịnh tín, thỉnh Tam Bảo đến đối diện Quy Y
6.  Con trai con gái đều đem lòng thương mến và gần gũi, coi như việc thường
7.  Tai muốn nghe tên họ của anh em, chị em, bè bạn 
8.  Tâm chánh trực không dua nịnh
9.  Rõ biết bạn bè giúp đỡ cho mình, khi thấy bà con săn sóc sanh lòng vui mừng
10.  Dặn dò giao phó các việc lại cho thân quyến, rồi từ biệt mà đi.
Người nào khi lâm chung, sẽ sanh lên cõi Trời, thì có những tiên triệu như sau:
1.  Sanh lòng thương xót  
2.  Phát khởi tâm lành
3.  Lòng thường vui vẻ
4.  Chánh Niệm hiện ra
5.  Đối với tiền của vợ con không còn tham luyến
6.  Đôi mắt có vẻ sáng sạch
7.  Ngước mặt trông lên miệng mỉm cười, hoặc tai nghe Thiên Nhạc, mắt thấy Thiên Đồng
8.  Không có những sự hôi hám
9.  Sống mũi không xiên xẹo
10.  Lòng không giận dữ.
Người nào lúc bình thời giữ Giới niệm Phật không được tinh tấn khi sắp chết không có các tướng lành dữ, nhắm mắt đi xuôi như người ngủ; kẻ ấy nghi tình chưa dứt, sẽ sanh về nghi thành ở biên phương Tịnh Độ.
Người nào khi lâm chung biết ngày giờ trước, Chánh Niệm rõ ràng, tự tắm gội thay đổi y phục, hoặc thấy Quang Minh chiếu thân, hoặc thấy Tướng Hảo của Phật, các điềm lành hiển hiện, kẻ ấy sẽ sanh về cõi Tịnh Độ.  (Kinh Thủ Hộ Quốc Giới)
Chúng hữu tình ở Ba Đường Ác, khi Nghiệp hết, nếu có Túc Phước cũng được sanh ngay trên cõi Trời, như loại Bàng Sanh, lúc mạng chung sắp chuyển sanh lên Thiên Cung, tự thấy có ánh sáng rực rỡ, lòng si nhẹ bớt, trí tuệ mở mang, trong lòng an vui, liền thoát hóa về Thiên Giới.  Các Ngạ Quỷ lúc mạng chung sắp sanh lên cõi Trời, tự có cảm giác không còn đói khát, tuy thấy các thức ăn uống, chỉ lấy mắt mà nhìn, nơi tâm vui vẻ, liền được thọ sanh.  Chúng Sanh ở Địa Ngục khi Nghiệp hết sắp sanh lên Thiên Cung thì đang lúc bị các hình phạt như: Quỷ tốt đánh đập, bỏ vào vạc dầu sôi, để trên giường sắt nóng, hay trong khi chim sắt, ác thú cắn mổ liền chết ngay không còn sống lại.  Bấy giờ, tự nghe thấy Chư Thiên múa hát cười nói, cảm biết gió thơm thổi vào mình, liền được thọ sanh.
Các hữu tình khi mạng chung, Thân Trung Ấm đang bơ vơ không nơi nương tựa, thì lúc ấy có ánh sáng yếu ớt của lục phàm soi đến.  Tùy theo Nghiệp duyên thân Trung Ấm sẽ sanh về cõi nào luồng ánh sáng của đạo ấy càng rực rỡ hơn lên.  Ánh sáng của Tứ Ác Đạo như trước đã nói, còn ánh sáng của nẻo Trời thì hơi Trắng, ánh sánh của nẻo người thì hơi Vàng.
Lại nữa, các cõi Phật ở Mười Phương cũng phóng ra những Hào Quang rực rỡ và mạnh như:  Hào Quang sắc Xanh chói lòa, Hào Quang sắc Trắng trong sạch, Hào Quang sắc Vàng bóng suốt như ngọc, Hào Quang sắc Đỏ mãnh liệt.  Như thế có rất nhiều thứ Hào Quang của Chư Phật chói suốt lẫn nhau.  Nhưng vì Nghiệp Lực, nên Thân Trung Hữu sợ hãi những Hào Quang mãnh liệt của Chư Phật đã soi đến, mà chỉ ưa thích những Hào Quang yếu ớt trong Lục Đạo.  Vì thế nên chúng sanh thường bị xoay vần quanh nẻo Luân Hồi, chịu nhiều điều khổ não
Loài người hiện tại khi mạng chung sắp sanh trở lại Châu Nam Thiệm Bộ, trước tiên thấy có tòa núi to như muốn rớt trên mình, tự đưa tay ra đỡ.  Liền khi ấy, lại thấy tòa núi đó đổi hình lại như giãi nệm Trắng, chính mình ngồi nơi niệm ấy mà bay đi.  Trong khi bay lên, lại thấy nệm hóa ra màu Đỏ.  Kế đó, lại thấy ánh sáng, trong ánh sáng có nam nữ hội hiệp.  Nếu sẽ sanh làm thân nam, thì tự thấy mình cùng Mẹ giao hiệp, đối với Cha cho là chướng ngại, có lòng ghét; như sẽ sanh làm thân nữ thì trái lại.  Bấy giờ hốt nhiên tướng Trung Ấm diệt liền vào thai.
Chúng hữu tình ở Châu Nam Thiệm Bộ sắp sanh về Châu Đông Phất Bà Đề, khi lâm chung thấy tất cả đều là màu Xanh, có một giải nệm Nanh rũ xuống, lúc ấy do sợ giải nệm Xanh rớt, tự đưa hai tay lên đỡ lấy, vẻ mặt dường như có sắc kinh hãi.  Kế đó lại thấy một cái hồ, bầy ngựa chạy giỡn trên bãi cỏ, Cha là ngựa đực, Mẹ là ngựa cái.  Nếu Trung Ấm sẽ sanh làm người nam, thì tự thấy mình là ngựa đực, đối với cha sanh lòng ghét, với Mẹ sanh lòng yêu.  Như Trung Ấm sẽ sanh làm người nữ, thì tự thấy mình là ngựa cái, đối với Cha yêu mến, với Mẹ lại ganh ghét.  Lúc ấy liền được thọ sanh.  Chúng hữu tình ở Châu Nam Thiệm Bộ khi lâm chung sắp sanh về Châu Tây Cù Đà Ni, thì trước tiên thấy một giãi nệm Vàng vây quấn, nhà cửa đều biến thành sắc Vàng.  Kế đó lại thấy một cái hồ, bốn bên bờ có trâu gặm cỏ, thân mình là trâu, Cha là trâu đực, Mẹ là trâu cái.  Lúc ấy tùy Nghiệp Duyên sẽ sanh làm trai hay gái, đối với Cha hoặc Mẹ sanh lòng điên đảo yêu ghét.  Bấy giờ liền được thọ sanh.  Chúng hữu tình ở Châu Nam Thiệm Bộ khi lâm chung sắp sanh về Châu Bắc Uất Đan Việt, trước tiên thấy một giải nệm Đỏ mịn màng, trong lòng ưa thích đưa tay khuấy động như muốn tiếp lấy.  Kế lại trông thấy một hồ sen Xanh, các loài Bạch Nga, Hồng Nhạn, Uyên Ương lội đùa trên mặt nước, mình cũng vào đó chơi giỡn.  Khi ở dưới hồ bước lên, vừa lúc Cha Mẹ dục nhiễm bất tịnh, do Nghiệp điên đảo thấy mình là chim ngỗng, Cha là ngỗng trống, Mẹ là ngỗng mái.  Bấy giờ tùy Nghiệp Duyên sẽ sanh làm trai hay gái, đối với Cha Mẹ sanh lòng điên đảo ghét yêu.  Trong khi đó liền được thọ sanh.  Chúng hữu tình ở Đông, Tây, Bắc Châu, từ nơi đây sanh nơi kia, khi lâm chung thấy trong hang tối có lá phướn dài rũ xuống:  ánh sáng như làn điển Đỏ.  Lúc ấy tự mình nắm phăng theo ngọn phướn đi vào, mà thọ Trung Ấm Thân.  Còn các tướng sanh về châu nào thì tùy mỗi nơi hoặc thấy hai con ngựa, hai con trâu, hai chim ngỗng như trước.  


Chúng hữu tình ở Châu Nam Thiệm Bộ, khi lâm chung sắp sanh lên cõi Trời, trước tiên thấy một giải nệm Trắng tế nhuyễn rũ xuống như muốn rớt, lại trông thấy các tướng vườn cây, ao hoa, Chư Thiên múa hát.  Lúc đó dù quyến thuộc có than khóc kêu gọi, do bởi Phước Nghiệp, kẻ ấy cũng không nghe biết, chỉ ngửi thấy mùi thơm, nghe tiếng âm nhạc, trong lòng vui vẻ không còn nhớ nghĩ chi cả, liền được thiện chung.  Chúng hữu tình ở Châu Phất Bà Đề, khi lâm chung sắp sanh lên cõi Trời, tự thấy cung đền nghiêm đẹp, xung quanh có Thiên Tử, thiên Nữ đang vui vẻ nhàn du.  Lúc đó trong lòng sanh hoan hỷ, tự có cảm giác như người mới thức dậy.  Bấy giờ liền được thọ sanh.  Chúng hữu tình ở Châu Cù Đà Ni, khi lâm chung sắp sanh lên cõi Trời, trước tiên thấy nước chảy xao xuyến trong ao đầm rộng lớn.  Lúc ấy thần thức nương theo ngọn nước trôi qua đến bờ bên kia.  Kế đó lại thấy các Thiên Nữ xinh đẹp, tự mình chạy đến mà ôm.  Khi ấy chính là lúc hóa sanh.  Chúng hữu tình ở Châu Uất Đan Việt, khi sanh lên cõi Trời, có nhiều tướng trạng.  Nếu là người Phước Đức bậc hạ, thì lúc lâm chung, mũi ngửi mùi thơm lạ, mắt thấy hoa quí đẹp, trong lòng ưa thích muốn leo lên cây cao.  Đang khi leo cây chính là lúc Trung Ấm bay lên núi Tu Di.  Khi đến nơi liền thấy thế giới của Chư Thiên, cung điện vườn hoa, tất cả đều trang nghiêm xinh đẹp.  Lúc ấy tùy theo nhân nhơn duyên kẻ đáng làm Cha Mẹ mà hóa sanh.  Như kẻ Phước Đức bậc trung, thì khi lâm chung thấy có bầy ong vần vũ xung quanh một hoa sen trong hồ, tự mình bước lên hoa sen ấy, bay đến thiên cung.  Lúc ấy tùy nơi nhân duyên của kẻ đáng làm Cha Mẹ mà hóa sanh.  Còn người Phước Đức bậc thượng, thì khi lâm chung thấy cung điện tốt đẹp trang nghiêm, Thân Trung Hữu nương nơi cung điện ấy mà bay lên hóa sanh nơi Thiên Giới.  Chư Thiên khi thọ chung sắp sanh lại cõi Trời, tự thấy các đồ trang nghiêm nơi thân không mất, không có vị Thiên Tử nào ngồi ở bản tòa của mình.  Lúc ấy tự thân bỗng diệt rồi lại sanh, như ngọn đèn tắt rồi lại cháy.  Nếu sanh lên cõi Trời cao hơn, thì có những tướng trạng thù thắng đáng mến.  Như sanh xuống cõi Trời thấp hơn, thì thấy vườn cây ao đều không bằng khi trước, tự có cảm niệm u buồn đói khát, lúc đó liền hóa sanh.  (Kinh Chánh Pháp Niệm, Tạp Sự Lục)
Bấy giờ, Đại Dược Bồ Tát hỏi Phật rằng:  Bạch Thế Tôn!  Loài hữu tình sau khi mạng chung, tướng trạng thọ Thiên Thân như thế nào?  Đức Phật bảo:
"Nầy Đại Dược!  Những chúng sanh có Phước Nghiệp khi sắp sanh lên Thiên Giới, thì có Thiên Nhãn, thấy được Y Báo và Chánh Báo ở cõi Lục Dục.  Chúng sanh đó thấy nhiều cung điện tốt đẹp, ao hoa, vườn cây quí lạ, rừng hoan hỷ....  Nơi ấy có những tòa cao trải lót bằng Thiên Y cùng vô lượng sự trang nghiêm khác.  Chư Thiên vị nào cũng xinh đẹp, trang sức bằng hoa tai, vòng xuyến, chuỗi anh lạc.  Những Thiên Tử và Ngọc Nữ dạo chơi khắp các nơi, đối nhau tươi cười.  Lúc thấy các tướng như thế, chúng sanh ấy tự nhiên sanh lòng vui mừng.  Khi người đó mạng chung, tâm không điên đảo, mũi không xiên vẹo, miệng không có mùi hôi, tai và mắt giống như sắc Hoa Sen Xanh, thân thể không chảy máu cũng không ra đồ bất tịnh, tay chân không co rút.  Lại khi lâm chung, kẻ ấy hoặc thấy xe kiệu tốt đẹp hiện ra trước.  Xe đó rộng lớn có đến ngàn cây cột, trang nghiêm bằng hoa thơm, chuỗi ngọc, lưới châu, linh báu.  Từ nơi bảo linh phát ra các tiếng nhiệm mầu.  Mùi hương bay lan phưởng phất.  Vô lượng Thiên Đồng cũng theo xe đi đến.  Khi thấy các tướng trạng như thế, người ấy thân tâm vui vẻ, yên ổn mà xả thân."  (Kinh Đại Bảo Tích)
Chư Thiên cõi Lục Dục khi mới sanh, tùy theo Thiên Giới cao thấp, thân hình có lớn nhỏ sai biệt, hoặc như đứa bé năm, sáu, bảy tuổi, hoặc như đứa bé tám, chín, mười tuổi.  Sau khi hóa sanh, Thiên Đồng cảm thấy đói khát, liền có các vị tô đà, cam lộ, đựng trong bảo khí hiện ra.  Lúc đó tùy theo Phước Báo ít nhiều, tự mình thấy thức ăn có những sắc hoặc Trắng, Vàng, Đỏ khác nhau.  Khi ăn uống xong, thân thể hóa hiện trang nghiêm, cao lớn.  Thường thường Thiên Nam hóa sanh ở đầu gối bên trái của Mẹ.  Hoặc có khi Chư Thiên nam, nữ đều hóa sanh ở đóa hoa nơi tay của Thiên Mẫu.  Chư Thiên cõi Sắc khi mới sanh, Thiên Tướng liền viên mãn, không trải qua sự ăn uống.  Tất cả thiên chúng đều tự biết Thánh Ngữ, không cần học tập.  (Luận Thuận Chánh Lý)
Chư Thiên khi sắp mạng chung có Năm Tướng tiểu suy:
1.  Y phục và đồ trang nghiêm như vòng xuyến, chuỗi anh lạc, kêu vang ra tiếng không được thanh tao êm dịu.  
2.  Ánh sáng nơi thân hốt nhiên mờ yếu.  
3. Khi tắm, gội, các giọt nước dính đọng nơi mình.  
4. Tánh tình thường thung dung phóng khoáng, nay bị trệ lại một cảnh.  
5.  Mắt luôn luôn máy động, không được trong lặng như mọi khi.  


Nhưng Năm Tướng nầy hiện ra cũng có khi nhằm trường hợp khác, không phải nhất định là sẽ chết.  Kế đó lại có Năm Tướng Đại Suy:  
1.  Y phục dính bụi.  
2.  Vòng hoa trên đầu rũ héo.  
3.  Hai nách chảy ra mồ hôi.  
4.  Thân có mùi hôi bay ra.  
5.  Không ưa chỗ ngồi của mình.  
Lúc năm tướng nầy hiện ra, quyết định sẽ mạng chung.  (Luận Câu Xá. Theo Kinh Nhân Quả thì Năm Tướng Đại Suy điều 1 là hai mắt máy động; điều 4 là ánh sáng nơi thân tắt mất). 
NGHIỆP DUYÊN THỌ SANH 
Đức Phật bảo:
"Nầy A Nan!  Tất cả loài hữu tình chết nơi đây, sanh nơi kia, sống chết nối nhau không dứt.  Mỗi khi lâm chung, các Nghiệp lành dữ trong một đời đều hiện.  Chúng sanh nào thuần tưởng thì bay lên hóa sanh nơi cõi Trời.  Nếu trong sự thuần tưởng gồm có Phước Huệ và Tịnh Nguyện, thì tự nhiên tâm khai được thấy Mười Phương Chư Phật, tùy nguyện sanh về cõi Tịnh Độ.  Chúng sanh nào tình ít tưởng nhiều thì vào hàng Phi Tiên, bay đi rất nhẹ nhàng, nhưng không được xa bằng hạng thuần tưởng.  Chúng sanh nào tình, tưởng bằng nhau, sẽ thác sanh vào cõi người; bởi tưởng là thông sáng, tình là tối mê, nên không lên không xuống.  Chúng sanh nào tình nhiều tưởng ít, sẽ lạc vào đường Bàng Sanh, nhẹ thì làm loài phi cầm, nặng thì làm loài tẩu thú.  Chúng sanh nào bảy phần tình ba phần tưởng, sẽ bị đọa làm thân Ngạ Quỷ, thường chịu nóng bức đói khát trải qua trăm ngàn kiếp.  Chúng sanh nào chín phần tình, một phần tưởng, sẽ bị đọa vào Nại Lạc Ca nhẹ thì sanh nơi Ngục Hữu Gián, nặng thì sanh nơi Ngục Vô Gián.  Chúng sanh nào thuần tình sẽ bị vào đọa Ngục Đại A Tỳ.  Nếu trong tâm ấy còn kiêm các tội như:  hủy cấm giới của Phật, khinh báng Kinh Đại Thừa, thuyết Pháp sai lầm, tham của tín thí, lạm thọ sự cung kính và phạm Ngũ Nghịch Thập Ác, thì sẽ bị quả luân chuyển sanh về Ngục Vô Gián ở Mười Phương."  (Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
Bởi Ba Cõi định ngôi, Sáu Đường chia loại, nên hình hài xấu đẹp, quả có khổ vui!  Tìm ra điểm sanh khởi chẳng rời sắc tâm; xả đến chổ hội quy không ngoài sanh diệt.  Mà sanh diệt Luân Hồi chính thật Vô Thường, sắc tâm Hư Huyễn nguyên là cội khổ!  Thế nên, Kinh Pháp Hoa dụ cho nhà lửa, Kinh Niết Bàn ví với sông to.  Bậc Thánh Nhơn thuyết giáo để đưa sanh loại vượt ra ba cõi, về nẻo chân tâm là do lẽ trên vậy.  Đến như Thiên Báo, tuy lầu quỳnh áo gấm, người đẹp cảnh xinh, nhưng trên Trời Tha Hóa còn có Thiên Ma, trong cõi Vô Vân vẫn nhiều ngoại đạo.  Huống nữa bậc Phi Tưởng Định còn đạo Phi Ly, Trời Đâu Xuất Đà hãy mê Ngũ Dục; nên biết Phước  áo dễ sanh kiêu mạn, cảnh vui khó học Niết Bàn!  Đến khi Thắng Nghiệp hết rồi, thì tóc tiên hoa héo, áo ngọc bụi vương, điện vàng tắt ánh quang minh, thân nhớp còn chi vẻ đẹp?  Khắp khuyên rửa lòng sám hối, niệm Phật làm lành, xa thì vui quả chân thường, gần được về nơi Tịnh Độ.  (Pháp Giới Tập Thuật Ngữ) 

Niệm Phật một câu, phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa