Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

SỰ TÍCH PHẬT A MI ĐÀ

Niệm Phật một câu, phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa


TIỀN THÂN CỦA PHẬT
Trích dẫn Đường Về Cực Lạc của H/T. Vạn Đức


Ðức Bổn Sư THÍCH CA MÂU NI Phật đã là một đấng lịch sử trong cõi Ta Bà ngoài mấy nghìn năm, hình ảnh Ngài vẫn in sâu nơi ký ức của nhơn loại, do truyện ký cùng di tích, nhất là nét vàng rực rỡ trong Tam Tạng.  Ðức Từ Phụ A MI ĐÀ Phật cũng là một đấng hoàn toàn lịch sử của Thế Giới Cực Lạc, trên vài mươi thế kỷ Hồng Danh mãi vang lên nơi miệng, nơi tâm của tất cả, y cứ nơi kim ngôn của Đức Bổn Sư, đấng Chơn Thật Ngữ.  Ðức Bổn Sư trước khi hiện thân thành đạo Vô Thượng ở cội Bồ Ðề để rồi trở nên vị Giáo Chủ cao cả của cõi Ta Bà, Ngài là Thiện Huệ Bồ Tát dâng hoa trải tóc cúng dường Phật NHIÊN ĐĂNG và là HỘ MINH Bồ Tát ngự ở cung Trời Ðâu Suất v.v… Ðức Từ Phụ cũng thế, trước khi viên thành quả Chánh Giác giữ ngôi Pháp Vương ở Cực Lạc Thế Giới, Ngài cũng có nhân địa của Ngài: Vua VÔ TRÁNH NIỆM thời kỳ Phật BẢO TẠNG, Vương Tử THẮNG CÔNG ĐỨC trong Pháp Hội của Phật BẢO CÔNG ĐỨC, Bồ Tát SA DI con trai của Đức ĐẠI THÔNG TRÍ THẮNG Phật v.v… Trước khi tìm hiểu đến thân và cõi hiện tại của Đức Từ Phụ ta cần nên rõ nhân địa của Ngài để biết rằng kết quả Vô Thượng đây tất do nơi nhân thù thắng thuở trước đây.


VUA VÔ TRÁNH NIỆM
Trích thuật theo Kinh BI HOA


Về khoảng hằng sa kiếp trước có một đại kiếp gọi là Thiện Trì.  Khi ấy tại cõi San Đề Lam có Vua CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG tên VÔ TRÁNH NIỆM thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: Đông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu và Bắc Cu Lô Châu tiếng nhân hiền đồn dậy bốn phương đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẵn lòng ái kính.  Vua ấy có nhiều người con và có một vị Đại Thần tên là BẢO HẢI con dòng Phạm Chí rất tinh thông về việc xem thiên văn.  Ông Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường, từ dưới chân lên đến trên đầu đều có Ba Mươi Hai Tướng Tốt.  Khi con ông mới sanh ra có các hàng khách tôn quí đem nhiều đồ lễ vật đến dâng cho, nhân vậy mà đặt tên là BẢO TẠNG.  Lúc khôn lớn, BẢO TẠNG xem biết việc đời là thống khổ thân mạng lại vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ cuộc vinh hoa liền xuất gia tu hành chẳng đặng bao lâu mà đã thành Phật hiệu là BẢO TẠNG Như Lai, đủ các đạo Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn.  Khi thành Phật rồi, Ngài dạo khắp các nơi mà hóa độ chúng sanh, có nhiều hàng đệ tử đã chứng đặng quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát nên nhân dân ai nấy cũng sẵn lòng hoan nghinh.


Có một bữa kia Vua VÔ TRÁNH NIỆM nghe Phật BẢO TẠNG cùng đại chúng đến giảng đạo tại Vườn Diêm Phù gần bên thành, thì tự nghĩ rằng - Nay ta muốn đến chỗ Phật đặng xem coi giảng đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đông như thế!  Nghĩ như vậy rồi, Vua cùng các vị Vương Tử, đại thần và quyến thuộc bèn đến Vườn Diêm Phù lễ Phật vừa xong, liền đi chung quanh ba vòng rồi ngồi bên ngài mà nghe Pháp.  Vua VÔ TRÁNH NIỆM xem thấy Đức BẢO TẠNG Như Lai khoanh chân ngồi trên bảo tọa có hình con Sư Tử rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốt đẹp, chung quanh thân Ngài có ánh sang nhiều sắc chói lòa.  Còn trong Pháp Hội thì thấy nào là những người đã xuất gia làm đệ tử của Phật cạo tóc đắp y, nào là những hàng Vương Tử đại thần mặc đồ Anh Lạc, nào là Cung Nga Mỹ Nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nông, công, thương, áo xiêm chỉnh đốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ gối thưa hỏi, xem bộ ai nấy cũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp cả.  Vua VÔ TRÁNH NIỆM quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn thân mình, rồi trở lại ngó Phật, mắt sững không nháy, lòng thiệt hoan nghinh, cái tâm niệm tín ngưỡng tự nhiên phát lộ, liền đảnh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồi cũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy.


Vua nghe Đức BẢO TẠNG Như Lai diễn đủ các Pháp lòng đã mở thông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết sự làm lành, liền quì xuống chấp tay mà thưa rằng:
"Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn sắm đủ những đồ ăn uống: áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dâng cúng cho Ngài và đại chúng luôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo.  Xin Ngài từ bi ai nạp".


Vua VÔ TRÁNH NIỆM thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền lệnh sắm sửa đủ mọi lễ, cứ đúng buổi mà dâng cúng không hề trễ nải.  Vua lại khuyên bảo các vị Vương Tử, đại thần, quyến thuộc và nhân dân rằng:
"Các ngươi có biết hay không?  Nay trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức BẢO TẠNG Như Lai và đại chúng đến mà cúng dường trọn ba tháng.  Những đồ báu trọng ngon đẹp của trẫm thọ dụng bấy lâu nay đều đem dâng cúng tất cả.  Các ngươi cũng nên thể theo ý trẫm xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu Phước Báo".  


Cả thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật mà dâng cúng Phật.  Có một hôm Quan Đại Thần BẢO HẢI là phụ thân Đức BẢO TẠNG Như Lai nằm chiêm bao thấy Vua VÔ TRÁNH NIỆM làm sự bố thí thì lớn, mà việc cầu Phước Báo thì nhỏ.  Sự ao ước của vua còn thuộc về Phước Hữu Lậu trong cõi nhân thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử.  Vậy nên Quan Đại Thần chẳng đặng vui lòng vì ý của ông muốn làm sao cho vua phát tâm cầu quả Bồ Đề, tu thành Phật đạo mà cứu vớt mọi loài chúng sanh, chớ không muốn cho vua cầu Phước Báo nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy.  Quan Đại Thần suy nghĩ như vậy bèn đến chỗ Phật BẢO TẠNG Như Lai tỏ điềm chiêm bao ấy và tâu với Vua VÔ TRÁNH NIỆM rằng:
"Muôn tâu Đại Vương!  Xin suy nghĩ đến việc này.  Về sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốt khác, nên khó đặng thân người.  Nay Đại Vương đã cảm lấy Phước Báo làm đặng Vương Thân thiệt là quí báu biết dường nào!  Các Đức Phật tùy cơ duyên của chúng sanh cảm triệu mà ứng hiện ra đời, cũng như Bông Ưu Đàm ứng thời mà nở thiệt là ít có!  Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế thì phần hân hạnh biết bao!  Dứt trừ lòng dục vọng, làm mọi sự Phước Duyên cũng là việc khó mà Đại Vương làm đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!  Xin Đại vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: - Ngày nay Đại vương cúng dường Phật Tăng dùng Phước Duyên đó mà cầu nguyện những việc chi, xin cho ngu thần rõ.  Nếu Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị Thiên Tử hưởng sự Phước Thọ hay là muốn cầu sanh về cõi nhân gian làm Vua Chuyển Luân, thống lãnh bốn châu thiên hạ như ngày nay vậy thì cũng còn ở trong khổ hải, chớ chưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.  Thưa Đại Vương!  Hai sự Phước Báo tôi đã trần tấu đó đều là tướng Vô Định, đều là sự Vô Thường thí như cơn gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắc chắn lâu dài chi đâu mà phải cầu nguyện!  Nếu sanh về cõi Trời khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo Ác Nghiệp thì cũng phải đọa vào Địa Ngục đặng chịu khổ.  Còn như sanh về cõi nhân gian thì lại chịu mọi sự khổ não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái khổ trạng ấy không thể kể xiết.  Vì Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới hưởng đặng sự tôn vinh như vầy.  Nếu nay Đại Vương giữ gìn Giới Luật thì sẽ đặng Phước Báo lớn hơn nữa. Còn như tu học Chánh Pháp thì sẽ thành chưởng trí.  Vậy xin Đại Vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ đừng cầu nguyện những việc Phước nhỏ nhen như hạng người thường kia vậy".  


Vua Vô Tránh Niệm nghe Quan Đại Thần BẢO HẢI khuyên thỉnh như thế thì tâm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng:
"Trẫm muốn trải khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí, trì giới, hầu nghe những Pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu vớt chúng sanh; do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề".


Đại Thần BẢO HẢI lại nói rằng:
"Bồ Đề là một đạo rất trong sạch sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả hư không, trùm cả sa giới rất có oai thần mãnh lực.  Vả lại đạo Bồ đề là Hạnh Bố Thí sẽ đặng giàu sang; là Hạnh Trì Giới sẽ đặng thanh tịnh; là Hạnh Nhẫn Nhục sẽ đặng vô ngã; là Hạnh Tinh Tấn sẽ đặng bất thoái ; là Hạnh Thiền Định sẽ vắng lặng; là Hạnh Bát Nhã sẽ đặng sáng suốt.  Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng quả Niết Bàn.  Vậy xin Đại vương nên phát tâm mà cầu đạo ấy".


Vua VÔ TRÁNH NIỆM đáp rằng:
"Này khanh!  Đương thời kỳ trung kiếp mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi!  Nay Đức BẢO TẠNG Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hoá chúng sanh, hoặc có kẻ chứng pháp Tam Muội, hoặc có người đặng bực Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi Nhân Thiên.  Trong hàng chúng sanh có một người nào không trồng căn lành mà Đức Như Lai chẳng nói Pháp đoạn khổ.  Tuy Ngài là Phước Điền của chúng sanh, song những người không có Căn Lành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng mọi sự khổ não.  Nay Trẫm phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Tát Hạnh, học Đạo Đại Thừa, chứng Pháp môn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sanh.  Trẫm muốn cầu làm sao cho khi thành đạo Bồ Đề thì thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnh chúng sanh không còn có một chút khổ gì.  Nếu đặng như vậy thì trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác". 


Vua VÔ TRÁNH NIỆM nói như vậy rồi bèn đi với quan Đại Thần BẢO HẢI đến chỗ Đức BẢO TẠNG Như Lai, thấy Ngài đương nhập định.  Lại dùng phép thần thông biến hóa và phóng hào quang sáng suốt, hiện cả Mười Phương Thế Giới của Chư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật đã Niết bàn rồi, hoặc có cõi Phật đương Niết bàn, hoặc có cõi các vị Bồ tát mới ngồi nơi đạo tràng dưới cây Bồ đề, đương hàng phục chúng ma hoặc có cõi Phật mới thành đạo và mới nói Pháp, hoặc có cõi Phật thành đạo đã lâu, đương còn nói Pháp, hoặc có thế giới toàn là các bực Bồ Tát, hoặc có thế giới toàn là những hàng Thanh Văn và Duyên Giác, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ Tát, Thanh Văn và Duyên Giác chi hết, hoặc có thế giới đủ năm món Ác Trược, hoặc có thế giới đủ các thứ trang nghiêm, hoặc có thế giới hèn kém dơ nhớp, hoặc có thế giới tốt đẹp lạ thường, hoặc có thế giới mà nhân dân sống lâu vô cùng, hoặc có thế giới mà nhân dân thọ mạng ngắn ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa, hoặc có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế giới gần thành tựu, hoặc có thế giới đã thành tựu rồi.  Đại thần BẢO HẢI thấy vậy, bèn tâu với Vua VÔ TRÁNH NIỆM rằng: 
"Nay Đại Vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai mà đặng thấy các thế giới; vậy Đại Vương phát Bồ Đề tâm muốn cầu lấy thế giới nào".


Vua chấp tay mà thưa với Đức BẢO TẠNG Như Lai rằng:
"Bạch Đức Thế Tôn!  Chẳng biết các vị Bồ Tát tu Hạnh gì mà được đặng cõi Phật tốt đẹp trang nghiêm, tu nghiệp gì mà được đặng thế giới xấu xa ác trược, do nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà số mạng ngắn ngủi?  Xin Ngài chỉ dạy cho tôi biết mà tu học".


Đức BẢO TẠNG Như Lai nói rằng:
"Vì bởi các vị Bồ Tát có sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không có các điều Ác Trược nên sau khi thành đạo được về ở cõi rất trang nghiêm.  Còn các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới Ngũ Trược đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo về ở cõi Ngũ Trược phiền não ấy".


Vua VÔ TRÁNH NIỆM lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình ngồi im lìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong cầu cho đặng cõi cực kỳ tốt đẹp, đặng tiếp dẫn chúng sanh.  Suy nghĩ rồi Vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng:
"Bạch Đức Thế Tôn!  Vì tôi muốn chứng đạo Bồ Đề nên đem công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng mà cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm.  Bạch Đức Thế Tôn!  Nay tôi nguyện sau này khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ sự vui đẹp, hình dạng nhân dân trong cõi ấy toàn là Sắc Vàng và không có những đường Địa Ngục, Ngạ Quỉ và Súc Sanh xen ở chung lộn.  Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy chẳng khi nào còn phải thoái chuyển mà đọa vào trong Ba Đường Dữ đó nữa và người nào cũng đủ Sáu Phép Thần Thông và Căn Thân tốt đẹp.  Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng còn có danh hiệu của người đàn bà nữa.  Hết thảy chúng sanh khi được về đó thần thức đầu thai trong Bông Sen, lúc bông nở ra thì Căn Thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài không kể xiết đặng.  Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thật xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng.  Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng Ba Mươi Hai Tướng Tốt, Sáu Phép Thần Thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.  Tôi nguyện nhân dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiên ra trước mắt; còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhân gian vậy.  Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy đặng từ rày về sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ Tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ Đề mà thành quả Chánh Giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.  Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở các thế giới đã phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Tát đạo, muốn sanh về cõi tôi thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.  Tôi nguyện khi tôi nhập diệt trải vô số kiếp về sau những người nữ nhân ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ Đề tâm, cho đến lúc thành Phật cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.  Bạch Đức Thế Tôn!  Tôi nguyên đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì tôi mới chịu thành Phật".


Đức BẢO TẠNG Như Lai nghe vua VÔ TRÁNH NIỆM nguyện mấy lời ấy rồi khen rằng:
"Hay thay!  Hay thay!  Đai Vương phát nguyện sâu lớn, muốn cõi thanh tịnh.  Kia Đại Vương hãy xem qua hướng Tây cách trăm ngàn muôn ức cõi Phật có một thế giới gọi là Tôn Thiện Vô Cấu, Giáo Chủ cõi ấy hiệu là TÔN ÂM VƯƠNG Như Lai, hiện nay đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy pháp Đại Thừa, giáo hóa các người Thượng Căn, chớ không diển thuyết các Pháp quyền tiểu.  Trong cõi ấy cũng không có chúng sanh Căn Trí Thiểu Thừa và cũng không có một ngưòi nữ nhân.  Nhưng Y Báo và Chánh Báo của Phật TÔN ÂM VƯƠNG Như Lai thật thanh tịnh trang nghiêm, rất xứng hiệp với chỗ cầu nguyện của Đại Vương đó!  Vì Đại Vương có thệ nguyện muôn cõi thanh tịnh, nên nay ta đổi hiệu Đại Vương là VÔ LƯỢNG THANH TỊNH.  Khi VÔ LƯỢNG THANH TỊNH mãn một trung kiếp thì Đức Phật TÔN ÂM VƯƠNG Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng mười trung kiếp.  Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung kiếp, thì cõi Tôn Thiện Vô Cấu đổi tên lại là: Di Lâu Quang Minh có Đức Phật, hiệu là BẤT KHẢ TƯ NGHÌ CÔNG ĐỨC VƯƠNG Như Lai ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh.  Sau khi Đức Phật ấy nhập Niết Bàn rồi trải vô số hằng sa kiếp và vô lượng Phật diệt độ thì cõi Di Lâu Quang Minh đỗi tên lại là An Lạc.  Đến thời kỳ VÔ LƯỢNG THANH TỊNHh chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là A MI ĐÀ Như Lai sống lâu vô cùng, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới về đó, rồi giáo hóa cho thành Phật đạo tất cả".


Vua VÔ TRÁNH NIỆM thưa rồi, đương cúi đầu thi lễ, tức thì Mười Phương Thế Giới thảy đều vang động.  Vua ở trong Pháp Hội nghe Chư Phật đều thọ ký cũng như lời Đức Phật BẢO TẠNG đã nói trên đó thì rất đỗi vui mừng, liền chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi nghe Phật BẢO TẠNG thọ ký cho các vị Bồ Tát khác.  Từ đó về sau, Vua VÔ TRÁNH NIỆM mạng chung thọ sanh ra các đời khác, kiếp nào cũng giữ lời bổn nguyện, tu hành Bồ Tát cứu độ chúng sanh, trải vô lượng kiếp quả mãn công viên hiện thành Chánh Giác đến nay đã mười đại kiếp rồi, Ngài ở cõi Cực Lạc Thế Giới bên Tây Phương đương giảng dạy các Pháp Đại Thừa và hằng tiếp dẫn chúng sanh đem về cõi ấy.


BỒ TÁT SA DI
Trích thuật theo Kinh PHÁP HOA, Phẩm HÓA THÀNH DỤ thứ 7


Ðức ĐẠI THÔNG TRÍ THẮNG Phật khi còn ở ngôi Quốc Vương có 16 người con trai. Lúc Quốc Vương bỏ ngai vàng xuất gia thành Phật, thời 16 vị Vương Tử đồng vào Pháp Hội xin xuất gia làm Sa Di.  Trải qua một thời gian tu học 16 vị Sa Di chứng ngộ diệu lý, đều đặng thần thông trí huệ.  Sau khi giảng Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA cho đại chúng trong Pháp Hội, Đức ĐẠI THÔNG TRÍ THẮNG Phật liền nhập tịnh thất trụ trong đại định.  


Thời gian Đức Phật ngồi yên lặng nơi tịnh thất, 16 vị Bồ Tát Sa Di đều thăng Pháp tòa giảng rộng nghĩa lý Kinh PHÁP HOA cho đại chúng.  Mỗi vị Bồ Tát Sa Di độ được sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa người.  Mười sáu vị Sa Di đó hiện nay đều đã thành Phật cả, đang ngự trong đạo tràng ở Mười Phương Thế Giới.  Vị Sa Di thứ 16 thành Phật ở cõi Ta Bà hiệu là Thích Ca Mâu Ni.  Và vị thứ 9 hiện tại thành Phật ở Cực Lạc Thế Giới, tức là Đức Từ Phụ A MI ĐÀ Phật.


THÁI TỬ THẮNG CÔNG ĐỨC
Trích thuật theo Kinh NHẤT HƯỚNG XUẤT SANH BỒ TÁT.


Về thuở quá khứ có ông Thái Tử tên là BẤT TƯ NGHÌ THẮNG CÔNG ĐỨC.  Năm 16 tuổi Thái Tử được nghe Kinh PHÁP BỔN ĐÀ LA NI nơi Đức Phật BẢO CÔNG ĐỨC TINH TÚ KIẾP VƯƠNG Như Lai.  Nghe Kinh xong Thái Tử tinh tấn tu tập trong bảy muôn năm, không ngủ nghỉ mà cũng không nằm không dựa.


Nhờ sức dõng mãnh ấy, nên lần lần Thái Tử được gặp chín mươi ức trăm nghìn Đức Phật.  Bao nhiêu Kinh Pháp của Chư Phật dạy truyền, Thái Tử đều có thể thọ trì tu tập cả.  Về sau Thái Tử xuất gia làm Sa Môn, lại tu tập PHÁP BỔN ĐÀ LA NI chín muôn năm và giảng truyền Chánh Pháp cho mọi người.  Tinh tấn tu hành và cần mẫn giáo hóa, trong một đời hoằng pháp Thái Tử độ được tám mươi ức na do tha người phát Bồ Ðề tâm, trụ bực Bất Thối Chuyển.  Thái Tử THẮNG CÔNG ĐỨC là tiền thân của Ðức Từ Phụ A MI ĐÀ Phật.


PHÁP TẠNG BỒ TÁT
Trích thuật theo Kinh ĐẠI BỔN A MI ĐÀ - VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT


Một hôm nhân thấy dung nhan của Đức Bổn Sư THÍCH CA MÂU NI Phật tươi tắn sáng rỡ khác hẳn ngày thường, Tôn Giả A NAN bèn ra lễ Phật rồi bạch hỏi duyên cớ.  Ðức Bổn Sư tán thán lời bạch hỏi đây, công đức lớn hơn công đức cúng dường vô lượng vị Thanh Văn cùng Duyên Giác, mà cũng lớn hơn công đức bố thí cho vô lượng hàng Chư Thiên, nhân dân cầm súc trong nhiều kiếp.  Vì Chư Thiên, nhân dân nhẫn đến các loài cầm súc đều nhờ lời bạch hỏi này mà được đạo Pháp giải thoát.  Rồi đức Bổn Sư cho biết rằng, hôm nay Ngài đang nghĩ đến bổn sự, bổn nguyện và bổn hạnh của Ðấng Giáo Chủ Cực Lạc Thế Giới A MI ĐÀ Phật.  Ðức Bổn Sư phán tiếp:
"Vô lượng vô số kiếp về trước, nhằm lúc Đức THẾ TỰ TẠI VƯƠNG Như Lai xuất thế giáo hóa chúng sanh, có một Quốc Vương nghe Đức Phật thuyết Pháp lòng rất vui thích, liền phát Bồ Ðề tâm từ bỏ ngai vàng xuất gia làm Sa Môn hiệu là PHÁP TẠNG.  Sa Môn PHÁP TẠNG đến đảnh lễ Phật THẾ TỰ TẠI VƯƠNG và sau khi thuyết tụng ca ngợi Đức Phật, người cần cầu Đức Phật truyền dạy công hạnh trang nghiêm Tịnh Ðộ nhiếp thủ chúng sanh, để người y theo tu hành.  Rõ biết Sa Môn là bực cao minh, chí nguyện sâu rộng, Đức Phật THẾ TỰ TẠI VƯƠNG vì Sa Môn PHÁP TẠNG mà giảng nói Y Báo đồng thời lại hiện tất cả ra cho thấy.  Khi nghe và được thấy Y Báo, Chánh Báo trang nghiêm của các quốc độ xong, Sa Môn PHÁP TẠNG phát khởi tâm nguyện thù thắng vô thượng.  Rồi trong thời gian năm kiếp, người suy gẫm chọn lấy công hạnh trang nghiêm thanh tịnh Phật Độ".


Bổn Sư nói với A NAN - Thời kỳ ấy, Đức Phật thọ 10 kiếp.  Khi tu tập xong, Sa Môn PHÁP TẠNG đến đảnh lễ Đức THẾ TỰ TẠI VƯƠNG Như Lai, và cầu Đức Phật chứng giám cho người thuật 48 điều Đại Nguyện mà người đã lập thệ quyết thực hiện để tiếp độ tất cả chúng sanh.  Lúc PHÁP TẠNG Bồ Tát đối Đức Phật THẾ TỰ TẠI VƯƠNG thuật 48 điều Đại Nguyện xong, thời khắp cõi đất đều rung động, Hoa Báu mưa xuống trên mình người, và giữa hư không tự nhiên tiếng nhạc vang lừng - Quyết chắc sẽ thành Phật!  Trải qua vô lượng vô số kiếp, PHÁP TẠNG Bồ Tát tu hành thực hiện hoàn toàn các điều nguyện trên, và người đã thành Phật đến nay được mười kiếp hiệu là A MI ĐÀ hiện đang ngự thuyết Pháp tại Cực Lạc Thế Giới, cách đây mười muôn ức cõi về Hướng Tây.


Trích từ sách Đường Về Cực Lạc của H/T. Thích Trí Tịnh tại niemphat.com

Niệm Phật  là nhân - Thành Phật là quả - Niệm Phật thành Phật

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

48 ĐẠI NGUYỆN

Niệm Phật một câu phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy tội diệt hà sa

                                                                                                       
TỨ THẬP BÁT NGUYỆN
Kinh Vô Lượng Thọ Phật - Việt dịch H/T. Vạn Đức
  1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  2. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại Ba Ác Đạo thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  3. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân Màu Vàng Ròng thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  4. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  5. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi chẳng biết Túc Mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  6. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi chẳng được Thiên Nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước Chư Phật thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  7. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi chẳng được Thiên Nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết Pháp của trăm ngàn ức na do tha Chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  8. Giả sư khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi chẳng được Tha Tâm Trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  9. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi chẳng được Thần Túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  10. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  11. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ Định Tụ quyết đến Diệt Độ thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  12. Giả sử khi tôi thành Phật, Quang Minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước Chư Phật thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  13. Giả sử khi tôi thành Phật, Thọ Mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  14. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  15. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi Thọ Mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại.  Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  16. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi mà còn nghe danh từ Bất Thiện thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  17. Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng Chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng Danh Hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  18. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương Chí Tâm Tin Ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến Mười Niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  19. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ Đề Tâm, tu các công đức Chí Tâm Phát Nguyện muốn sanh về nước tôi.  Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  20. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe Danh Hiệu của tôi, Chuyên Nhớ nước tôi, trồng những Cội Công Đức, Chí Tâm Hồi Hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  21. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ Ba Mươi Hai Tướng Đại Nhơn thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  22. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực Nhứt Sanh Bổ Xứ.  Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc Giáp Hoằng Thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu Hạnh Bồ Tát, cúng dường Chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi Đạo Chánh Chơn Vô Thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu Công Đức Phổ Hiền.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác. 
  23. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường Chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  24. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước Chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  25. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói Nhứt Thiết Trí thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  26. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được Thân Kim Cương Na La Diên thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  27. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có Thiên Nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  28. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết Cây Đạo Tràng thọ Màu Sáng Vô Lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  29. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết Kinh Pháp mà chẳng được Trí Huệ Biện Tài thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  30. Giả sử khi tôi thành Phật, Trí Huệ Biện Tài của Bồ Tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  31. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới Chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  32. Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng Vô Lượng Châu Báu, Trăm Ngàn Thứ Hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng Thiên nhơn.  Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương.  Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu Hạnh Phật.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  33. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được Quang Minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyễn hơn hẳn hàng Thiên nhơn.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  34. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe Danh Hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn các Thâm Tổng Trì thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  35. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương Nghe Danh Hiệu tôi Vui Mừng Tin Ưa phát tâm Bồ Đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  36. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương nghe Danh Hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu Phạm Hạnh đến thành Phật Đạo.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  37. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe Danh Hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy, Vui Mừng Tin Ưa tu Hạnh Bồ Tát thì được Chư Thiên và người đời đều kính trọng.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  38. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi muốn được Y Phục liền tùy nguyện hiện đến, Y Phục Đẹp đúng Pháp như Phật khen ngợi tự nhiên mặc trên thân.  Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  39. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực Lậu Tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  40. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những Cây Báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  41. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe Danh Hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các Căn Thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  42. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác Nghe Danh Hiệu tôi thảy đều chứng được Thanh Tịnh Giải Thoát Tam Muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị Chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm Chánh Định.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  43. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe Danh Hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  44. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe Danh Hiệu tôi Vui Mừng Hớn Hở tu Hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  45. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe Danh Hiệu tôi thảy đều chứng được Phổ Đẳng Tam Muội, an trụ trong Tam Muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả Chư Phật.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  46. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe Pháp liền tự nhiên được nghe.  Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  47. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe Danh Hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực Bất Thối Chuyển thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
  48. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe Danh Hiệu tôi mà chẳng liền được Đệ Nhứt Nhẫn, Đệ Nhị Nhẫn và Đệ Tam Pháp Nhẫn, nơi các Phật Pháp chẳng liền được bực Bất Thối Chuyển thì tôi chẳng lấy Ngôi Chánh Giác.
Niệm Phật nhân - Thành Phật là quả - Niệm Phật thành Phật

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

HƯƠNG SEN VẠN ĐỨC - P/1

Niệm Phật một câu phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy tội diệt hà sa


TẠI SAO LẠI NIỆM
NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT?
Trích dẫn Khai Thị Niệm Phật của H/T. Thích Trí Tịnh

Sáu chữ hồng danh đây nguyên là Phạn âm (tiếng Thiên Trúc).  Hai chữ đầu "Nam mô" nguyên âm là Namo ta quen đọc liền vần Nam mô là lời tỏ lòng thành kính, có nghĩa là Quy y (về nương) và Quy mạng (đem thân mạng gởi về).  Chữ thứ sáu "Phật" nguyên âm là Buddha (Bụt Đa hay Bụt Thô) ta quen đọc gọn là Phật, chỉ cho đấng hoàn toàn giác ngộ (Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).  Ba chữ giữa "A MI ĐÀ" là biệt danh của đấng Cực Lạc Giáo Chủ, dịch nghĩa là Vô Lượng (Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ) Như trong Kinh, Đức Bổn Sư tự giải thích rằng:
"Đức Phật ấy quang minh vô lượng, soi suốt các cõi nước ở Mười Phương không bị cách ngại.  Đức Phật Ấy và nhơn dân trong nước của Ngài thọ mạng vô lượng vô biên  vô số kiếp".

Trong Quán Kinh nói:
"Nếu người chí tâm xưng danh hiệu của Đức Phật đây, thời trong mỗi niệm diệt được tôi sanh tử trong 80 ức kiếp và được vãng sanh"...

Trong Kinh Chư Phật Hộ Niệm nói:
"Nếu người nghe danh hiệu của Đức Phật đây mà chấp trì trong một ngày đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn thời được thành tựu nhiều Thiện Căn Phước Đức.  Đức Phật ấy và Thánh Chúng sẽ hiện đến nghênh tiếp"...

Kinh Văn Thù Bát Nhã nói:
"Nếu người chuyên xưng danh hiệu thời đặng chứng Nhất Hạnh Tam Muội và chóng thành Phật"...

Xem như lời của Đức Bổn Sư THÍCH CA, đấng chân thật ngữ phán trên đây thời thấy rằng ba tiếng hồng danh của Đức Giáo Chủ Cực Lạc có những năng lực bất khả tư nghị.  Muốn được kết quả to tát như lời trong Kinh, hành nhơn phải chí tâm xưng niệm và phải xưng niệm đúng âm vận, chớ không nên như người Pháp goi Chợ Lớn là Sôlông, hay Bà Rịa là Baria.  Ba chữ A MI ĐÀ nguyên là Phạn âm.  Người Tàu đọc là "A-MI-THÔ" và họ tụng xuôi là "Á-MI-THỒ".  Danh hiệu ấy truyền qua xứ Việt ta bằng chữ Tàu, biên sẵn trong các pho Kinh sách Tàu.  Người Việt ta cứ theo lệ phổ thông, chữ đâu đọc đó nên đọc là "A-DI-ĐÀ".  Như đọc Nã Phá Luân để kêu Hoàng đế Napoleon, cùng đọc Ba-Lê để kêu kinh đô Paris.  Với sự phiên âm bằng chữ Tàu, người Tàu đọc giống gần với nguyên âm, mà người Việt ta đọc sai quá xa.  Gía như ta gặp hoàng đế Pháp mà gọi ông ta là Nã Phá Luân  thời thật là đáng buồn cười.  Với A DI ĐÀ để gọi Đức Giáo Chủ Cực Lạc cũng theo lệ đó.

Nhiều năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam Mô A DI ĐÀ Phật, khi chuyên niệm nhiều (mỗi ngày từ hai vạn câu trở lên), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm.  Giữa lúc đó tiếng “DI” là chủ của sự chướng.  Vì thế, tôi mới để ý đến chính âm vận của Sáu Tiếng Hồng Danh.  Đồng thời lời của Tổ Vân Thê trong sớ sao nói: "Hồng danh Nam mô A MI ĐÀ Phật toàn là tiếng Phạn, chuyên trì không quên, thời cùng với Pháp trì chú của Mật Tông đồng nhau" lại thúc đẩy tôi vào sự khảo cứu.  Với vần La Tinh, người Anh ghép "AMITA" mà tôi được thấy ở bộ Phật Học Đại Tự Điển.  Tôi đem ba chữ "A-MI-ĐÀ" ra hỏi, thời các Sư Tàu cũng như Cư Sĩ Tàu đều đọc gằn từng tiếng một trước mặt tôi: "A-MI-THÔ".  Hai tiếng đầu “A” và “MI” đã nhất định và đồng thời quyết chắc đọc “DI” là sai.  Tôi còn thắc mắc ở tiếng thứ ba, vì nếu đọc "A-MI-TA" như vần Anh, cùng "A-MI-THÔ" như người Tàu thời với tiếng Việt có hai điều bất tiện: 1. Nghe không nghiêm và không êm., 2. Khác với thông lệ từ xưa.

Một học giả Bali và Phạn ngữ giải thích: chữ “ĐÀ”  của tàu dùng phiên âm Phạn Ngữ có hai giọng: 1. "THÔ" như danh từ "BỤT-THÔ" mà người tàu đọc xuôi là "BÙ-THỒ"., 2. "ĐA" cũng như danh từ "BỤT-ĐA" (Buddha).  Với giọng "ĐA" để đọc chữ "THÔ" nó mở đường cho tôi ghép 3 chữ lại: "A-MI-ĐA" và theo cách đọc xuôi đánh dấu huyền "A-MI-ĐÀ".  Ghép luôn cả sáu tiếng Nam mô A MI ĐÀ Phật tôi nhận thấy rằng tránh khỏi cái lỗi quá khác với nguyên âm dù vẫn chưa được  hoàn toàn, nhưng có thể gọi là nhiều phần đúng và không quá cách biệt với cách đọc phổ thông theo cổ lệ, vì trong sáu tiếng đây chỉ có đổi "DI" thành "MI" mà thôi.  Sau khi tham cứu như trên xong, tôi bắt đầu chuyên chí niệm Nam mô A MI ĐÀ Phật và cũng bắt đầu từ đó tôi liền nhận được kết quả:
1. Sáu Tiếng Hồng Danh đây nổi rõ nơi tai cũng như nơi tâm, khác hẳn sự mờ mờ lọt sót của tiếng "DI" trong thời trước.
2. Khi niệm ra tiếng, từ năm ngàn câu mỗi thời trở lên, môi lưỡi càng lúc càng nhạy, càng chuyên, càng lanh.  Khác hẳn sự trệ môi cứng lưỡi của những ngày niệm khi xưa.
3. Niệm ra tiếng với "A-MI" khỏe hơi hơn niệm ra tiếng của "A-DI" khi trước, nhờ vậy mà mỗi thời niệm được lâu và nhiều.

Người chuyên niệm danh hiệu Phật, tầng cấp đầu tiên là đến mức "Bất niệm tự niệm, hay niệm lực tương tục".  Nếu khi niệm mà bị trệ, và tiếng Phật lại lờ mờ không nổi rõ nơi tâm thời khó mong được kết quả trên.  Còn  nếu trái lại thời mới có hy vọng đến đích.  Biết rằng niệm A MI ĐÀ được nhiều phần đúng với nguyên âm, nó sẽ đem đến cho mình cái mãnh lực bất tư nghì, diệt vô số kiếp tội thành Đại Thiện Căn Phước Đức giống như Pháp Trì Chơn Ngôn (Thần Chú) của Mật Tông mà Tổ Vân Thê đã phán.  Nó sẽ đưa mình đến mức bất niệm tự niệm, vì tiếng niệm không bị trệ lụt và nổi rõ nơi tâm.  Nhất là niệm "A-MI-ĐÀ" được khỏe hơi, nhờ đó nên được niệm lâu và nhiều.  Niệm Phật được thuần thục là nhờ niệm nhiều câu, nhiều giờ và tiếng niệm nhấn rõ nơi tâm.  Và mức bất niệm tự niệm đây là phần bảo đảm vãng sanh Tịnh Độ cho người chuyên niệm.  Tôi tin rằng niệm gần với nguyên âm, tức là gần đúng với thật danh của Đức Giáo Chủ Cực Lạc, tất dễ được tương ưng và chóng được cảm thông với Phật.  Và tôi đã tự cảm thấy có lẽ đúng như thế.  

Nhưng trong kỳ Kiết Thất 49 ngày ở tịnh thất nơi Chùa Linh Sơn Cổ Tự, một hôm tôi bỗng có ý nghĩ mình dù thiển trí bạc đức, song cũng là người tai mắt trong Tăng Giới và cũng có đôi phần uy tín đối với gần xa, riêng mình tự tu đã đành không ngại gì, song rồi đây tất có người tin tưởng nơi mình mà họ sẽ tự noi theo chỗ làm của mình, nghĩa là họ sẽ niệm Nam mô A MI ĐÀ Phật.  Một người như thế lần lần sẽ có nhiều người như thế, tất sau này khó khỏi đôi điều thắc mắc:
1. Bàng quang sẽ cho mình lập dị, riêng phái, phá sự đã phổ thông của cổ lệ.
2. Đem sự ngờ vực cho người đã niệm "A-DI-ĐÀ" khi những người này chưa hiểu thế nào là "A-DI" và thế nào là "A-MI".  Và sự ngờ là điều rất chướng của Pháp Môn Miệm Phật.

Tôi tự giải thích, cổ lệ đã sai thời sự sửa đổi là điều cần (tôi tự sửa đổi riêng tôi).  Mình không có quan niệm lập phái riêng hay lập dị, thời cũng không ngại gì với chuyên thị phi phê bình của bàng quan.  Và với sự ngờ của những người chưa nhận chơn, sẽ giúp họ tìm tòi khảo cứu, nhờ tìm xét họ sẽ thấu rõ sự sai với đúng, và họ sẽ thâu hoạch được kết quả tốt cũng như mình.  


Mặc dù tôi tự giải thích với tôi như thế, nhưng trong thâm tâm vẫn mãi băn khoăn gần suốt ngày.  Chiều hôm ấy khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-MI nổi bật giữa khung trời xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những hiệu buôn chiếu sáng trong đêm.  Tôi thử ngó qua hướng khác thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời chữ A-MI vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây bề cao và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn... Tối hôm ấy tôi chiêm bao thấy mình đi vào một khu vườn cây cao cảnh đẹp.  Giữa vườn một dãy nhà cất theo kiểu trường học, và nghe rõ trong ấy một người xướng và số đông người hòa: Nam mô A-MI-ĐÀ Phật!  Tôi tự bảo: Ủa lạ!  Câu Nam mô A-MI-ĐÀ Phật tưởng là chỉ của riêng mình cải cách, riêng mình tín hướng và riêng mình chuyên niệm.  Bất ngờ ở đây, người ta cũng đồng niệm như vậy rồi!  Tôi đứng dừng trước ngõ trường chăm chú nghe xướng hòa như thế hơn 10 lần mới choàng tỉnh.  Bấy giờ mới biết là mình nằm mơ.  Do hai điềm trên đây, bao nhiêu nổi thắc mắc và băn khoăn nơi lòng tôi đều tan rã như khối tuyết dưới ánh nắng trưa hè.  Từ hồi nào dù với hàng đệ tử, tôi chưa từng bảo ai bỏ niệm "A-DI" mà niệm "A-MI".  Song do ảnh hưởng ngấm ngầm mà lần lần có một số đông người xuất gia cũng như hàng tại gia niệm "A-MI-ĐÀ".  Đó phải chăng là do cơ duyên thời tiết nó nên như thế!  Và cũng vì cớ ấy mà hôm nay có bài thuyết minh và tự thuật này.


Tôi viết bài này chỉ với mục đích gíup thêm sự nhận chơn về câu Nam mô A MI ĐÀ Phật cùng lịch sử của nó cho các bạn đồng tu đã chuyên niệm như thế.  Và bài này cũng chỉ truyền bá trong phạm vi các bạn đây thôi.  Tôi xin khuyên nhắc các bạn, đối với những vị đã quen niệm hay đã sẵn tín tâm nơi câu Nam mô A DI ĐÀ Phật nhất là người ở trong hoàn cảnh thiếu tiện lợi, các vị nên để yên cho các vị ấy niệm theo sự phổ thông cổ lệ để tránh sự ngoại chướng cho họ và cho họ khỏi sự do dự trên đường hành trì mà họ có thể vướng phải.

Niệm Phật một câu phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy tội diệt hà sa

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

NGHI THỨC SÁM HỐI


Niệm Phật một câu phúc sanh vô lượng - Lễ Phật một lạy tội diệt hà sa

SÁM HỐI SÁU CĂN
Vua Trần Thái Tông biên soạn
H/T. Thích Thanh Từ dịch
CHÍ TÂM SÁM HỐI: 


Chúng con từ vô thuỷ kiếp đến nay, bỏ mất bản tâm, không biết Chánh Đạo.  Rơi ba đường khổ, bởi Sáu Căn lầm;  Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

1.            NGHIỆP CĂN MẮT là:
Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh.  Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.  Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh giành.  Chợt mắt đối sanh, mờ đường Chánh Kiến.  Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai.  Nhìn lệch các thứ, nào khác kẻ mù.  Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang.  Loà mắt chưa sanh, Bản Lai Diệc Mục.  Thấy ai giàu có, giương mắt mãi nhìn.  Gặp kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.  Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô.  Thân quyến qua đời, đầm lìa lệ máu.  Hoặc đến Tam Bảo, hoặc vào chùa chiền.  Gần Tượng thấy Kinh, mắt không thèm ngó.  Phòng Tăng Điện Phật, gặp gỡ gái trai.  Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục.  Không ngại Hộ Pháp, chẳng sợ Long Thần.  Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.  Những tội như thế, vô lượng vô biên.  Đều từ mắt sanh, phải sa địa ngục.  Trải hằng sa kiếp, mới được làm người.  Dù được làm người, lại bị mù chột.
2.  NGHIỆP CĂN TAI là:
Ghét nghe Chánh Pháp, thích lắng lời tà.  Mê mất gốc chơn, đuổi theo ngoại vọng.  Sáo đàn inh ỏi, Bảo Khúc Long Ngâm.  Văng vẳng mõ chuông, coi như ếch nhái.  Câu ví bài vè, bỗng nhiên để dạ.  Lời Kinh câu Kệ, không chút lắng tai.  Thoảng nghe khen hảo, khấp khởi mong cầu.  Biết rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.  Vài ba bạn rượu, năm bảy khách chơi.  Tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.  Hoặc gặp Thầy bạn, dạy bảo đinh ninh.  Những điều hiếu trung, che tai bỏ mặc.  Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm.  Nghe nửa câu Kinh, liền như tai ngựa.  Những tội như thế, vô lượng vô biên.  Đầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết.  Sau khi mạng chung, rơi Ba Đường Ác.  Hết nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.
3.  NGHIỆP CĂN MŨI là:
Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào.  Chẳng thích chơn hương, Năm Phần Thanh Tịnh.  Lan xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi.  Giới Định Hương Huân, chưa từng để mũi.  Trầm đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài.  Nghểnh cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.  Theo dõi hương trần, Long Thần chẳng nể.  Chỉ thích mùi sằng, trọn không chán mỏi.  Mặt đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa.  Cây Giác Hoa Tâm, xoay đi không đoái.  Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau.  Thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.  Chẳng ngại tanh hôi, không kiên hành tỏi.  Mê mãi không thôi, như lợn nằm ổ.  Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng.  Bôi cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.  Hoặc say nằm ngủ, Điện Phật Phòng Tăng.  Hai mũi thở hơi, xông Kinh nhơ tượng.  Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm.  Không biết không hay, đều do nghiệp mũi.  Những tội như thế, vô lượng vô biên.  Sau khi mạng chung, đoạ Ba Đường Khổ.  Trải ngàn muôn kiếp, mới được làm người.  Dù được làm người, quả báo bệnh mũi.


4. NGHIỆP CĂN LƯỠI là:
Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở.  Nếm hết các thứ, biết rõ béo gầy.  Sát hại sinh vật, nuôi dưỡng thân mình.  Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú.  Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.  Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.  Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật.  Cố cam bụng đói, đợi lúc tiệc xong.  Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều.  Giống hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.  Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan.  Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.  Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con.  Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.  Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm.  Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.  Chửi mắng Tam Bảo, nguyền rủa Mẹ Cha.  Khinh khi Hiền Thánh, lừa dối mọi người.  Chê bai người khác, che dấu lỗi mình.  Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ.  Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo.  Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.  Lời dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn.  Tô vẽ điều sai, nói không thành có.  Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông.  Tán dóc Tăng Phòng, ba hoa Phật Điện.  Những tội như thế, vô lượng vô biên.  Ví như cát bụi, đếm không thể cùng.  Sau khi mạng chung, vào Ngục Bạt Thiệt.  Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.  Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh.  Dù được làm người, lại bị câm bặt.
5. NGHIỆP CĂN THÂN là:
Tinh Cha huyết Mẹ, chung hợp nên hình.  Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.  Chấp cho là thật, quên mất Pháp Thân.  Sanh dâm, sát, trộm, bèn thành BA NGHIỆP:
A. NGHIỆP SÁT SANH là: Luôn làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ.  Giết hại Bốn Loài, đâu biết một thể.  Lầm hại cố giết, tự làm dạy người.  Hoặc tìm thầy bùa, đem về ếm đối.  Hoặc làm thuốc độc, để hại sanh linh.  Chỉ cốt hại người, không hề thương vật.  Hoặc đốt núi rừng, lấp cạn khe suối.  Buông chài bủa lưới, xuýt chó thả chim.  Thấy nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm.  Cử động vận hành, đều là tội lỗi.
B. NGHIỆP TRỘM CẮP là: Thấy tài bảo người, thầm khởi tâm tà.  Phá khoá cạy then, sờ bao mò túi.  Thấy của Thường Trụ, lòng dấy khởi tham.  Trộm của nhà chùa, không sợ Thần giận.  Không những vàng ngọc, mới mắc tội to.  Ngọn cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm.
C. NGHIỆP TÀ DÂM là: Lòng mê nhan sắc, mắt đắm phấn son.  Chẳng đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.  Hoặc nơi đất Phật, Chánh Điện Phòng Tăng, Cư sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn.  Tung hoa ném quả, đạp cẳng kề vai.  Khoét ngoạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.  Những tôi như thế, vô lượng vô biên.  Đến lúc mạng chung, đều vào địa ngục.  Gái nằm giường sắt, trai ôm cột đồng.  Muôn kiếp tái sanh, lại chịu tội báo.
6. NGHIỆP CĂN Ý là:
Nghĩ vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào dừng.  Mắc mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.  Như tằm kéo kén, càng buộc càng bền.  Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.  Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh.  Não loạn tâm thần, đều do Ba Độc:
A.     TỘI KEO THAM là: Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ.  Mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.  Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy.  Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy.  Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét.  Lụa là chất đống, nào có giúp ai.  Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều.  Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.  Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai.  Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.  Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo.  Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
B.     TỘI NÓNG GIẬN là: Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu.  Quắc mắt quát to, tiêu tan hoà khí.  Không riêng người tục, cả đến Thầy tu.  Kinh luận tranh dành, cùng nhau công kích.  Chê cả Sư Trưởng, nhiếc đến Mẹ Cha.  Cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.  Buông lời hại vật, cất tiếng hại người.  Không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.  Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu.  Dù ở cửa Không, chưa thành Vô Ngã.  Như cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây.  Những tội trên đây, đều do nghiệp giận.
C.     TỘI NGU SI là: Căn tánh đần độn, ý thức tối tăm.  Chẳng hiểu tôn ty, không phân thiện ác.  Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay.  Mắng Phật chuốc ương, phun Trời ướt mặt.  Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân.  Không tỉnh không xét, đều do si nghiệp.  Những tội như thế, rất nặng rất sâu.  Đến lúc mạng chung, rơi vào Địa Ngục.  Trải ngàn muôn kiếp, mới được thọ sanh.  Dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo.  Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ.  Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.

TỤNG TAM QUY - NGŨ GIỚI
TAM QUY
Chúng con nguyện suốt đời QUY Y PHẬT, QUY Y PHÁP, QUY Y TĂNG (1 lạy)
QUY Y PHẬT là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là Bậc Thầy Giác Ngộ sáng suốt của chúng con.
QUY Y PHÁP là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo Chánh Pháp từ Kim Khẩu Đức Phật nói ra.
QUY Y TĂNG: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo những Tăng sĩ tu hành đúng chánh pháp của Như Lai.
QUY Y PHẬT rồi, chúng con không kính trọng tu theo Trời, Thần, Quỷ, Vật.  QUY Y PHÁP rồi, chúng con không kính trọng tu theo ngoại đạo, tà giáo.  QUY Y TĂNG rồi, chúng con không kính trọng, làm thân với bạn dữ, nhóm ác.


NGŨ GIỚI
1. Chúng con nguyện trọn đời giữ GIỚI KHÔNG SÁT SANH.  Nghĩa là chúng con không giết người bằng mọi cách, không sai bảo kẻ khác giết người.  Cho đến những con vật lớn hay nhỏ, chúng con cũng không nhẫn tâm giết hại; mà hằng bảo vệ sanh mạng chúng sanh.
2. Chúng con nguyện trọn đời giữ GIỚI KHÔNG TRỘM CƯỚP.  Nghĩa là chúng con thấy tài sản, vật dụng của người, không khởi lòng tham, lén lấy hay giật lấy; mà luôn luôn bảo vệ tài sản của người như tài sản của mình.
3. Chúng con nguyện trọn đời giữ GIỚI KHÔNG TÀ DÂM.  Nghĩa là chúng con chỉ một vợ một chồng, chớ không có lòng mê hoa đắm sắc, làm điều tà vạy, gây đau khổ cho gia đình mình và gia đình người; mà hằng tán thán ca ngợi đời sống trinh bạch.
4. Chúng con nguyện trọn đời giữ GIỚI KHÔNG NÓI DỐI.  Nghĩa là chúng con không do lòng tham nói lời dối trá lừa bịp người, không do lòng nóng giận nói lời hung dữ khiến người buồn giận, không do lòng hiểm ác nói lời vu oan, vu cáo khiến người bị khó khăn tù tội; mà hằng nói lời chân thật ngay thẳng.
5. Chúng con nguyện trọn đời giữ GIỚI KHÔNG UỐNG RƯỢU.  Nghĩa là chúng con không uống các thứ rượu mạnh và nhẹ khiến tâm trí rối loạn mờ tối, thân thể sanh nhiều bệnh hoạn, chuốc lỗi lầm với thân nhân và quyến thuộc; cho đến các thứ á phiện, xì ke, ma tuý thảy đều tránh xa.  Cúi xin Tam Bảo hộ trì khiến chúng con đầy đủ nghị lực, gìn giữ NĂM GIỚI trong sạch để được là người tốt trong đời này và đời sau.




TÂY PHƯƠNG CỬU BÁI
Nghi Thức Sám Hối của H/T. Thích Trí Tịnh
Nam mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhứt Thiết Chư Phật (1 lạy)

Nam mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhứt Thiết Tôn Pháp (1 lạy)

Nam mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhứt Thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)
Sắc thân Như Lai đẹp
Trong đời không ai bằng
Không sánh, chẳng nghĩ bàn
Nên nay con đảnh lễ.

Sắc thân Phật vô tận
Trí huệ Phật cũng thế,
Tất cả pháp thường trú
Cho nên con về nương.

Sức trí lớn nguyện lớn
Khắp độ chúng quần sanh,
Khiến bỏ thân nóng khổ
Sanh kia nước mát vui.

Con nay sạch Ba Nghiệp
Quy y và lễ tán
Nguyện cùng các chúng sanh
Đồng sanh nước An Lạc.

Án phạ nhựt ra vật (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Thường Tịch Quang Tịnh Độ A MI ĐÀ Như Lai - Pháp Thân Mầu Thanh Tịnh Khắp Pháp Giới Chư Phật (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Thật Báo Trang Nghiêm Độ A MI ĐÀ Như Lai - Thân Tướng Hải Vi Trần Khắp Pháp Giới Chư Phật (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Phương Tiện Thánh Cư Độ A MI ĐÀ Như Lai - Thân Trang Nghiêm Giải Thoát Khắp Pháp Giới Chư Phật (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi An Lạc Phương Tây A MI ĐÀ Như Lai - Thân Căn Giới Đại Thừa Khắp Pháp Giới Chư Phật (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi An Lạc Phương Tây A MI ĐÀ Như Lai - Thân Hóa Đến Mười Phương Khắp Pháp Giới Chư Phật (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi An Lạc Phương Tây GIÁO, HẠNH, LÝ Ba Kinh - Tột Nói Bày Y, Chánh Khắp Pháp Giới Tôn Pháp (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi An Lạc Phương Tây QUÁN THẾ ÂM Bồ Tát - Thân Tử Kim Muôn Ức Khắp Pháp Giới Bồ Tát (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi An Lạc Phương Tây ĐẠI THẾ CHÍ Bồ tát - Thân Trí Sáng Vô Biên Khắp Pháp Giới Bồ Tát (1 lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi An Lạc Phương Tây THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG - Thân Hai Nghiêm Phước, Trí Khắp Pháp Giới Thánh Chúng (1 lạy)

Con nay khắp vì Bốn Ơn, Ba Cõi cùng chúng sanh trong Pháp Giới, đều nguyện dứt trừ Ba Chướng nên Quy Mạng Sám Hối (1 lạy)


Con từ vô thỉ đến nay Sáu Căn che mù, Ba Nghiệp tối tăm, chẳng thấy chẳng nghe, chẳng hay chẳng biết, vì nhơn duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ, trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi. Kinh rằng: Đức Tỳ Lô Giá La thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường Tịch Quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật Pháp, mà con không rõ, lại theo giòng vô minh vì thế trong trí Bồ Đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc.  Nay mới tỏ ngộ, nay mới chừa bỏ, ăn năn phụng đối trước các Đức Phật và A MI ĐÀ Thế Tôn mà phát lồ sám hối, làm cho đệ tử cùng Pháp Giới chúng sanh, tất cả tội nặng do Ba Nghiệp Sáu Căn gây tạo từ vô thỉ, hoặc hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.  


Đệ tử sám hối rồi, Sáu Căn cùng Ba Nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh Độ khắp với chúng sinh, đồng sanh về nước An Dưỡng.  Nguyện Đức A MI ĐÀ Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền tăng tấn, chẳng mất nhân duyên Tịnh Độ, đến giờ lâm chung thân an niệm chánh, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy Đức A MI ĐÀ cùng các Thánh Chúng tay cầm Đài Hoa tiếp dẫn đệ tử, trong khoảnh sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ Tát, rộng độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A MI ĐÀ Như Lai Biến Pháp Giới Tam Bảo (1 lạy)
Niệm Phật là nhân - Thành Phật là quả - Niệm Phật thành Phật